Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN CHƯƠNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN CHƯƠNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017
CÔNG CHÚA- Truyện ngắn
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 03:14
Tôi nép
mình bên gốc ổi già nhìn Công Chúa của tôi đang ưỡn ẹo đi tới góc vườn
nơi có chú mèo đực lông đen đang lấp ló đứng nhìn.
Tôi gọi con mèo tam thể nhà mình bằng cái tên Công Chúa bởi nó rất đẹp. Bộ lông trắng đen vàng óng ánh như tơ đôi mắt khuôn mặt cả chiếc đuôi dài mướt... tất cả đều toát lên vẻ kiêu sa quyền quý của một chú mèo giống tốt lại được chăm sóc nuôi nấng kỹ càng. Mới ngày nào mua về nó chỉ bé như nắm tay giờ đã là một nữ mèo sung sức vóc dáng mạnh mẽ đầy đặn. Công Chúa đã đến kỳ tìm bạn tình. Nhưng tôi không ngờ người bạn tình đầu tiên của nó lại là thằng mèo đen này. Một thằng mèo đen chẳng biết nó lôi kéo từ đâu về đây gầy gò bộ lông đen dựng ngược khuôn mặt nhọn hoắt bộ râu già nua vểnh lên một cách hợm hĩnh và thô tục.
Tôi gọi con mèo tam thể nhà mình bằng cái tên Công Chúa bởi nó rất đẹp. Bộ lông trắng đen vàng óng ánh như tơ đôi mắt khuôn mặt cả chiếc đuôi dài mướt... tất cả đều toát lên vẻ kiêu sa quyền quý của một chú mèo giống tốt lại được chăm sóc nuôi nấng kỹ càng. Mới ngày nào mua về nó chỉ bé như nắm tay giờ đã là một nữ mèo sung sức vóc dáng mạnh mẽ đầy đặn. Công Chúa đã đến kỳ tìm bạn tình. Nhưng tôi không ngờ người bạn tình đầu tiên của nó lại là thằng mèo đen này. Một thằng mèo đen chẳng biết nó lôi kéo từ đâu về đây gầy gò bộ lông đen dựng ngược khuôn mặt nhọn hoắt bộ râu già nua vểnh lên một cách hợm hĩnh và thô tục.
MỘ TRỌC- Truyện ngắn
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 03:12
Chị buông thõng tay, chiếc
ba lô rơi chúi xuống bờ ao muống ngay ngõ vào làng. Cứ như có ai kéo
thụp đôi chân, chị khuỵu xuống. Tiếng kèn đám ma chói vang tai chị. Màu
trắng của khăn tang làm mắt chị mờ đi.
Ai
đó kéo mạnh tay chị. "Thoa à. Chạy đến với mạ đi con" - "Thoa ạ...
Không nhìn được mặt mạ thì cũng kịp đưa mạ ra mộ con ạ". Thoa bước như
chao trên đường. Những ai đó dìu tay chị. Những ai đó kéo tay chị đặt
vào thành quan tài đang di chuyển. Chị bước giật lùi. Sau lưng chị là
động cát. Trước mặt chị là màu đỏ chói của quan tài. Râm ran tiếng khóc.
Trong cơn đau đớn đến mê muội, chị nghe loáng thoáng những tiếng kể lể
về cái chết của mẹ chị. Một cơn đột quỵ ngay sau khi bà nhận được thư
chị.
Thứ Tư, 18 tháng 2, 2015
MÂY TRẮNG SA PA.
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 04:34
(Lý do viết: Nhận được tin nhắn cậu bạn muốn gửi ít gạo cho mình ăn tết nhưng không biết làm sao- Mở tủ lạnh thấy mấy doi thịt heo hun khói của gái Sa Pa gửi để tết uống rượu với bạn- Đêm nằm lạnh lưng khó ngủ: Với tất cả những điều đó- mấy dòng tùy bút bất thình lình về MÂY TRẮNG SA PA xin phép được bắt đầu)
1.
Hình như mây Sa Pa trắng nhất. Tôi tin thế. Tôi đã ngồi hàng giờ bên cửa sổ khách sạn, kiên nhẫn nhìn mây trắng vần vũ kín mít cả một khoảng trời, trắng tinh khiết, trắng lạnh, tựa như trời đang phơi mây trên lớp lớp đỉnh núi, rồi chợt mây dãn ra, òa lên một vòm nắng đỏ, mặt trời khi ấy chẳng khác gì lòng đỏ trứng gà, cùng với đó là tiếng sáo Mông ở đâu như từ mây trắng vọng xuống, từ chân núi vọng lên, từ khe suối vọng về hay từ trong ánh mắt em long lanh bật ra, tiếng sáo Mông thả từng giai điệu trên những đám mây trắng xốp ấy, nghe không từ tai mà từ tim, ngọt và say, mềm và đau cứa, tiếng sáo như làn gió của hồi ức, lần giở những kỷ niệm, những suy tư, những khắc khoải, những mong nhớ không hình thù, không rõ nét, mơn man mơn man, bay là là trong mắt, trong trí, nhẹ nhưng vấn vít như mây...
2.
Như bàn tay khổng lồ vô hình nào đó kéo mây dạt về hai phía, để lộ một khoảng trời xanh biếc,xanh như không thể xanh hơn, xanh trong vắt, tinh khôi, đẩy mắt nhìn xa thăm thẳm, đẹp đến thắt lòng, cái đẹp không huyên náo, không ồn ào, khoảng trời xanh Sa Pa sau lớp lớp mây trắng đẹp tới độ chết lặng mắt nhìn, tới độ nếu có thể đánh đổi mọi thứ để lấy một chút khoảng trời xanh biếc này thì chả ai tiếc, đẹp tới độ màu trời bỗng trở nên một sắc màu đặc biệt mà chỉ có trời đất Sa Pa mới có thể pha phối nên được, nó xanh lắm, xanh mát lành, đẩy mắt ta vòng vọng nhìn rất xa, như lên tới thiên đường, và trong cái khoảng trời khổng lồ màu xanh biếc ấy, chợt vang lên tiếng chuông nhà thờ, ngỡ như màu xanh biếc ấy là một vòm chuông khổng lồ treo giữa không trung....
3.
Tôi vẫn thích ngồi một mình trên phiến đá ven đường, ngắm những bàn chân người Sa Pa đi bộ. Họ đi ra từ mây, bàn chân vương vướng một chút mây trắng, vương vướng một chút màu đất núi, bàn chân vương vướng vài chiếc lá rừng, những bàn chân đặt trên đất rất nhẹ, nhẹ như mây, dù họ đang gùi, đang thồ, đang vác nặng. Tiếng bước chân từ bốn phương tám hướng dồn về thị trấn trong phiên chợ, đi từ sáng sớm, tiếng bàn chân như nhịp thở Sa Pa, như nhịp vỗ tay, như nhịp nhảy, như tiếng thở của núi, những bàn chân như vết màu của người vẽ tranh, vẽ trên đất Sa Pa những nhịp sống thuần chất, những dấu chân nối nhau in rõ trên đường đất ẩm chồng chồng lớp lớp như những ký tự của đất trời Sa Pa, từng ngày từng ngày viết lên ở vùng đất này nhật ký sống của người Sa Pa, nhật ký của mây, của gió, của ánh nắng, của nương rẫy. Tôi sà vào phiên chợ, ngắm, nhìn, cảm, và chợt nhận ra, ơ, hình như bà con các dân tộc Sa Pa, Lào Cai không phải xuống chợ là để mua để bán, hình như là không hẳn thế, nhỉ, mà phiên chợ là cách để người ta khoe về mình, về nhà mình, về công việc, sở thích của mình thôi: Khoe con heo cắp nách bụ bẫm ngơ ngác nhìn, khoe cặp gà trống, khoe cái váy mới với muôn vàn đường kim sợi chỉ thêu thùa bằng những đôi tay như phép thuật, khoe cả tiếng hát, cả tiếng cười, khoe cả ánh mắt đôi khi như thảng thốt tìm bạn tình....Cũng như Sa Pa vậy, không phải là mây núi giăng ngày đêm như thế mà Sa Pa đang khoe mây trắng, mỗi ngày mấy bận khoe mây trắng, mây trắng như là sản vật của tạo hóa tặng cho vùng đất này, hàng ngày trời mang mây ra phơi giăng trên núi rồi lại thu vào, hôm sau lại mang ra khoe giăng như thế, nếu không có mây trắng đẹp đến thế liệu có thành một Sa Pa?
4.
Hãy lên một đỉnh núi thật cao, sáng sớm, và chọn một vị trí thật đắc địa, có thể bao quát cho hết thung lũng thị trấn Sa Pa. Rồi bạn hãy tự tại ngồi đợi, thật kiên nhẫn, như tôi đã từng ngồi kiên nhẫn hàng giờ, sương ướt đẫm cả áo, kệ, đợi thôi, cuộc đời cần phải biết đợi, cuộc đời đẹp là nhờ vào những khoảnh khắc chờ đợi, cuộc đời thú vị là nhờ vào cảm xúc của sự chờ đợi....tôi chờ đợi phút giây mây tan ở Sa Pa. Thị trấn Sa Pa bắt đầu một ngày mới là mây trắng, mây trắng võng xuống, che kín đáo cả thị trấn, chỉ có một màu trắng mềm. Rồi khi mặt trời bắt đầu rạng, vùng mây trắng khổng lồ bắt đầu dãn ra, bắt đầu là những chòm lá thông già, bắt đầu là tháp chuông nhà thờ, bắt đầu là những mái ngói khu biệt thư, rồi bắt đầu là những ngả đường ngang dọc, cuối cùng là những con ngựa thồ hàng, những bóng người ẩn hiện, mây trắng chầm chậm tan đi để lộ thiên một thị trấn Sa Pa lúc nào cũng đang e ấp, lúc nào cũng đang ngơ ngác, lúc nào cũng như mơ ngủ, cái đẹp Sa Pa rất tĩnh, rất sâu lắng, như những nét vẽ mờ trên lụa, như một nốt nhạc trầm âm nhưng ngân xa...
5.
Sa Pa lúc nào cũng lành lạnh, cái lạnh rất nhẹ, ngọt ngào, đủ cho anh phải nắm lấy tay em lấy cớ tìm hơi ấm, đủ cho ánh mắt em nhìn ướt mềm như mây, đủ cho mái tóc em vướng vào bên vai tôi đẫm sương, đủ cho một cử chỉ choàng cái khăn mỏng lên vai nhau...Cái lạnh tạo cơ hội cho bếp lửa thêm đỏ rực, xiên thịt nướng trên lò than, chén rượu rót đầy, chạm cốc uống và bắt tay, anh muốn bắt tay em thật nhiều- với anh bắt tay là cơ hội để thêm một lần công khai nắm tay em thôi, và để được thế anh lại phải cạn chén, rượu chưa say mà mắt đã say, ừ thì giả vờ say chút chút đã sao, để có cớ nhích lại gần em hơn, có cớ nắm tay em lâu hơn, có cớ tìm mắt em nhiều hơn và có cớ để hát theo em, tiếng hát chìm nổi như con thuyền lướt trên mây, bồng bềnh, bồng bềnh, rồi lại đưa cốc rượu lên, ánh lửa lấp lánh trên môi em cùng với những giọt rượu hình như được chắt góp ra từ mây trắng.
6.
Em vẫn nói, anh có cần gì ở Sa Pa cho tết?
Tôi nói, cần một chút mây trắng Sa Pa.
Làm sao gửi được mây, thì tôi ngồi viết về mây Sa Pa, rứa thôi.


1.
Hình như mây Sa Pa trắng nhất. Tôi tin thế. Tôi đã ngồi hàng giờ bên cửa sổ khách sạn, kiên nhẫn nhìn mây trắng vần vũ kín mít cả một khoảng trời, trắng tinh khiết, trắng lạnh, tựa như trời đang phơi mây trên lớp lớp đỉnh núi, rồi chợt mây dãn ra, òa lên một vòm nắng đỏ, mặt trời khi ấy chẳng khác gì lòng đỏ trứng gà, cùng với đó là tiếng sáo Mông ở đâu như từ mây trắng vọng xuống, từ chân núi vọng lên, từ khe suối vọng về hay từ trong ánh mắt em long lanh bật ra, tiếng sáo Mông thả từng giai điệu trên những đám mây trắng xốp ấy, nghe không từ tai mà từ tim, ngọt và say, mềm và đau cứa, tiếng sáo như làn gió của hồi ức, lần giở những kỷ niệm, những suy tư, những khắc khoải, những mong nhớ không hình thù, không rõ nét, mơn man mơn man, bay là là trong mắt, trong trí, nhẹ nhưng vấn vít như mây...
2.
Như bàn tay khổng lồ vô hình nào đó kéo mây dạt về hai phía, để lộ một khoảng trời xanh biếc,xanh như không thể xanh hơn, xanh trong vắt, tinh khôi, đẩy mắt nhìn xa thăm thẳm, đẹp đến thắt lòng, cái đẹp không huyên náo, không ồn ào, khoảng trời xanh Sa Pa sau lớp lớp mây trắng đẹp tới độ chết lặng mắt nhìn, tới độ nếu có thể đánh đổi mọi thứ để lấy một chút khoảng trời xanh biếc này thì chả ai tiếc, đẹp tới độ màu trời bỗng trở nên một sắc màu đặc biệt mà chỉ có trời đất Sa Pa mới có thể pha phối nên được, nó xanh lắm, xanh mát lành, đẩy mắt ta vòng vọng nhìn rất xa, như lên tới thiên đường, và trong cái khoảng trời khổng lồ màu xanh biếc ấy, chợt vang lên tiếng chuông nhà thờ, ngỡ như màu xanh biếc ấy là một vòm chuông khổng lồ treo giữa không trung....
3.
Tôi vẫn thích ngồi một mình trên phiến đá ven đường, ngắm những bàn chân người Sa Pa đi bộ. Họ đi ra từ mây, bàn chân vương vướng một chút mây trắng, vương vướng một chút màu đất núi, bàn chân vương vướng vài chiếc lá rừng, những bàn chân đặt trên đất rất nhẹ, nhẹ như mây, dù họ đang gùi, đang thồ, đang vác nặng. Tiếng bước chân từ bốn phương tám hướng dồn về thị trấn trong phiên chợ, đi từ sáng sớm, tiếng bàn chân như nhịp thở Sa Pa, như nhịp vỗ tay, như nhịp nhảy, như tiếng thở của núi, những bàn chân như vết màu của người vẽ tranh, vẽ trên đất Sa Pa những nhịp sống thuần chất, những dấu chân nối nhau in rõ trên đường đất ẩm chồng chồng lớp lớp như những ký tự của đất trời Sa Pa, từng ngày từng ngày viết lên ở vùng đất này nhật ký sống của người Sa Pa, nhật ký của mây, của gió, của ánh nắng, của nương rẫy. Tôi sà vào phiên chợ, ngắm, nhìn, cảm, và chợt nhận ra, ơ, hình như bà con các dân tộc Sa Pa, Lào Cai không phải xuống chợ là để mua để bán, hình như là không hẳn thế, nhỉ, mà phiên chợ là cách để người ta khoe về mình, về nhà mình, về công việc, sở thích của mình thôi: Khoe con heo cắp nách bụ bẫm ngơ ngác nhìn, khoe cặp gà trống, khoe cái váy mới với muôn vàn đường kim sợi chỉ thêu thùa bằng những đôi tay như phép thuật, khoe cả tiếng hát, cả tiếng cười, khoe cả ánh mắt đôi khi như thảng thốt tìm bạn tình....Cũng như Sa Pa vậy, không phải là mây núi giăng ngày đêm như thế mà Sa Pa đang khoe mây trắng, mỗi ngày mấy bận khoe mây trắng, mây trắng như là sản vật của tạo hóa tặng cho vùng đất này, hàng ngày trời mang mây ra phơi giăng trên núi rồi lại thu vào, hôm sau lại mang ra khoe giăng như thế, nếu không có mây trắng đẹp đến thế liệu có thành một Sa Pa?
4.
Hãy lên một đỉnh núi thật cao, sáng sớm, và chọn một vị trí thật đắc địa, có thể bao quát cho hết thung lũng thị trấn Sa Pa. Rồi bạn hãy tự tại ngồi đợi, thật kiên nhẫn, như tôi đã từng ngồi kiên nhẫn hàng giờ, sương ướt đẫm cả áo, kệ, đợi thôi, cuộc đời cần phải biết đợi, cuộc đời đẹp là nhờ vào những khoảnh khắc chờ đợi, cuộc đời thú vị là nhờ vào cảm xúc của sự chờ đợi....tôi chờ đợi phút giây mây tan ở Sa Pa. Thị trấn Sa Pa bắt đầu một ngày mới là mây trắng, mây trắng võng xuống, che kín đáo cả thị trấn, chỉ có một màu trắng mềm. Rồi khi mặt trời bắt đầu rạng, vùng mây trắng khổng lồ bắt đầu dãn ra, bắt đầu là những chòm lá thông già, bắt đầu là tháp chuông nhà thờ, bắt đầu là những mái ngói khu biệt thư, rồi bắt đầu là những ngả đường ngang dọc, cuối cùng là những con ngựa thồ hàng, những bóng người ẩn hiện, mây trắng chầm chậm tan đi để lộ thiên một thị trấn Sa Pa lúc nào cũng đang e ấp, lúc nào cũng đang ngơ ngác, lúc nào cũng như mơ ngủ, cái đẹp Sa Pa rất tĩnh, rất sâu lắng, như những nét vẽ mờ trên lụa, như một nốt nhạc trầm âm nhưng ngân xa...
5.
Sa Pa lúc nào cũng lành lạnh, cái lạnh rất nhẹ, ngọt ngào, đủ cho anh phải nắm lấy tay em lấy cớ tìm hơi ấm, đủ cho ánh mắt em nhìn ướt mềm như mây, đủ cho mái tóc em vướng vào bên vai tôi đẫm sương, đủ cho một cử chỉ choàng cái khăn mỏng lên vai nhau...Cái lạnh tạo cơ hội cho bếp lửa thêm đỏ rực, xiên thịt nướng trên lò than, chén rượu rót đầy, chạm cốc uống và bắt tay, anh muốn bắt tay em thật nhiều- với anh bắt tay là cơ hội để thêm một lần công khai nắm tay em thôi, và để được thế anh lại phải cạn chén, rượu chưa say mà mắt đã say, ừ thì giả vờ say chút chút đã sao, để có cớ nhích lại gần em hơn, có cớ nắm tay em lâu hơn, có cớ tìm mắt em nhiều hơn và có cớ để hát theo em, tiếng hát chìm nổi như con thuyền lướt trên mây, bồng bềnh, bồng bềnh, rồi lại đưa cốc rượu lên, ánh lửa lấp lánh trên môi em cùng với những giọt rượu hình như được chắt góp ra từ mây trắng.
6.
Em vẫn nói, anh có cần gì ở Sa Pa cho tết?
Tôi nói, cần một chút mây trắng Sa Pa.
Làm sao gửi được mây, thì tôi ngồi viết về mây Sa Pa, rứa thôi.



Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015
ĐẤT HÁT.
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 23:52
Tùy bút
Đất xứ Nghệ trầm mặc, cũng như sông Lam và nhiều con sông nữa trên đất xứ Nghệ chảy trầm mặc giữa bao la cánh đồng, trập trùng đồi núi, mùa hè dòng chảy hiền lắm, hiền và mềm mại như dải yếm đào của các cô thôn nữ, như mái tóc em xõa sau mỗi lần gội, còn về mùa lũ thì sức vóc dòng sông trở nên cuồn cuộn, mạnh và nhanh, và ồn ào như tính cách con trai xứ Nghệ.
Đất xứ Nghệ không dành cho kẻ lười biếng, đất này thèm mồ hôi, đất này thèm được chăm sóc, cày xới, vun bón, đất này thèm nghe những tiếng chân trai gái làng bước đều quanh năm, theo mùa màng, bước đều theo vui buồn, no đói hàng hàng thập kỷ. Đất xứ Nghệ biết thử thách ý chí, lòng kiên trung, biết giữ ai tận hiếu, biết đẩy đuổi kẻ phản nghịch, kẻ bất hiếu, biết níu chân níu tay những tấm lòng son sắt.
Đất xứ Nghệ mạch lạc, núi là núi, đồi là đồi, ruộng là ruộng, bờ bãi là bờ bãi, không pha tạp, không lưỡng tính, đất mặn, đất ngọt, đất sỏi đá hay đất cát pha, ở đâu trên vùng quê này đất cũng trở nên hồn vía, linh thiêng theo đời người, âm thầm mà dữ dội sinh ra tính cách, tính cách người xứ Nghệ mộc như đất, nói yêu là yêu chết đi sống lại cũng yêu, nói ghét thì dâng vàng dâng bạc cũng cứ ghét, nói no là no, nói đói là đói, ăn không cần mời, mời khách không cần đãi bôi, đói thì sà vào mâm cùng ăn, no thì uống bát nước chè cười với chủ, rành mạch như thế, như mạch đất, sống dễ, bao dung và thân thiện tự bao đời.
Với người xứ Nghệ, buồn vui gì cũng gắn chặt với đất. Mà có lẽ thế, đời này sang đời khác, đất xứ Nghệ bỗng hòa đồng cùng tiếng thở, cùng vui buồn của người xứ Nghệ, rồi trong thăm thẳm đất đai ấy, bỗng vỡ òa một tiếng ngân chăng, một tiếng hò chăng, mà sau này, tiếng hò, tiếng ngân ấy, lời than thở ấy, tiếng ca vui buồn tha thiết ấy lưu truyền trên những dòng sông, trên bờ bãi, từ cánh đồng vào ngõ nhà, từ người già sang người trẻ, để sinh ra tiếng hát của đất chăng?
Hãy lắng nghe trong tĩnh lặng của đêm, tĩnh lặng của tâm, tĩnh lặng của lòng vòng vọng dội về một tiếng hò ví, giặm…Ban đầu như âm u xa thăm thẳm tiếng sóng vỗ nhẹ vào bờ, sau rồi câu hát ví, giặm ấy dâng tràn trong tim, trong trí não, trong ký ức, đôi khi hát bằng những khóe miệng cười tươi tắn, đôi khi hát cùng nước mắt, đôi khi hát trong nỗi nhớ xao xuyến, nhớ ai đó cháy ruột cháy gan, nỗi nhớ mang tên ví- giặm thôi nhưng sâu thăm thẳm, cao vời vợi, nhớ hồn nhớ vía mà em ngồi đan áo kim đâm vào tay, em xuống ruộng cấy lúa mà bùn văng vào mắt, anh lên đốn củi mà dao bổ vào chân, anh xuống thuyền chèo mà răng va vào mui, đó là hồn cốt ví- giặm, là lời của đất, là đất hát…
Không phải vùng đất nào cũng có thể sinh ra những câu hò.
Không phải đâu cũng có thể là nguồn cội cho lời ca tiếng hát.
Không phải nơi nào cũng có thể cống hiến cho nhân loai bản sắc văn hóa độc đáo, như xứ Nghệ đang cống hiến cho nhân loại ví- giặm quê mình.
Xứ Nghệ không chỉ tạo nên những người hùng, những thiên tài, xứ Nghệ là đất hát, là những câu ví –giặm mà bất cứ nơi đâu trên thế gian, chỉ cần nghe giai điệu thôi, giai điệu mềm và ngân, xa xót mà bóng mượt, giai điệu không cần phiên dịch thì người nghe đã có thể thấm, đã có thể say, đã có thể nao núng trước cái tình, cái nghĩa…mần răng chịu được đây.
Không phải ở đâu đất cũng hát.
Đất xứ Nghệ hát. Bắt đầu những thanh ba êm ả từ những dòng sông nhỏ, rồi ào ào âm thanh trên sông Lam, rồi vi vút cao vời trên những đỉnh núi, rồi đột ngột hạ thấp xuống bờ bãi biển khơi, rồi chơi vơi trên những ngọn tre làng, mơn man trên đồng lúa, day dứt ở những ngõ làng, sẽ sàng trên những ao sen….
Đất xứ Nghệ tạo cơ hội cho người xứ Nghệ trải lòng bằng lời ví, giặm.
Yêu cũng ví, giặm. Giận hờn cũng ví, giặm. Nhớ thương cũng ví, giặm. Đau đớn cũng ví, giặm. Hóa ra đất xứ Nghệ sinh ra ví, giặm để gửi vào đó thân phận mình, cuộc sống của mình, đất chính là người, hồn đất hòa quyện với hồn người, mong manh đấy nhưng vững bền đấy, tất cả đều nhờ vào ví, giặm chở đi tấm lòng, chở đi câu hát, chở đi nỗi nhớ, chở đi tâm sự, chỉ là tâm sự mộc mạc ấy thôi mà người đi thì đi không dứt, người ở thì ở không đành, ra khỏi xứ Nghệ, ở Bắc, ở Nam, ra cả thế giới, chỉ cất lên một lời hát ví, giặm- lời hát đất xứ Nghệ là ào tới nhau, là quấn quýt nhau, là yêu thương nhau, là che chở nhau, câu ví, giặm se duyên tình bằng hữu, tình yêu đôi lứa, tình bầu bạn…
Đêm đêm dưới những mái nhà, trong từng ngõ xóm, ngân lên một câu hát ru đã có thể làm chân ta như ríu lại, đã có thể nhìn thấy đâu đó chiếc võng kẽo kẹt, bà mẹ trẻ bế đứa con thơ, võng đung đưa theo lời ru, theo câu hát, từng nhịp từng lời, khoan nhặt như cánh võng, như cái neo lòng neo lại cả đêm dài trong ký ức của ta.
Đêm đêm, trên các nẻo đường, con trai con gái níu nhau theo từng câu hát ví, giặm, nhờ vào câu hát mà tỏ tình, mà thổn thức, mà chuyển đi thông điệp tình yêu, để rồi vào một thời khắc nào đó tinh tú nhất của đêm, câu ví, giặm kéo họ lại gần bên nhau, đặt một dấu yêu mặn và nồng, da diết, ngọt lành như lời hát.
Đêm đêm, vùi trong gối mềm, cô gái thổn thức cất lời trong nỗi nhớ người thương.
Đêm đêm, bà mẹ già cất lời hát trong niềm thương nhớ đứa con đang ở xa, chồng đang ở xa, hát trong nước mắt.
Đêm đêm, tôi nhớ em, tôi ngồi lặng im dưới trăng, chòng chọc nhìn lên vầng trăng, vươn nỗi nhớ về miền ví, giặm mong được thấy em.
Xứ Nghệ có ví, giặm cho tôi gặp em.
Xứ Nghệ có ví, giặm cho tôi nhớ em.
Xứ Nghệ có ví, giặm cho tôi níu giữ mình cùng cốc rượu với bạn bè.
Đất xứ Nghệ là đất hát
Đất xứ Nghệ trầm mặc, cũng như sông Lam và nhiều con sông nữa trên đất xứ Nghệ chảy trầm mặc giữa bao la cánh đồng, trập trùng đồi núi, mùa hè dòng chảy hiền lắm, hiền và mềm mại như dải yếm đào của các cô thôn nữ, như mái tóc em xõa sau mỗi lần gội, còn về mùa lũ thì sức vóc dòng sông trở nên cuồn cuộn, mạnh và nhanh, và ồn ào như tính cách con trai xứ Nghệ.
Đất xứ Nghệ không dành cho kẻ lười biếng, đất này thèm mồ hôi, đất này thèm được chăm sóc, cày xới, vun bón, đất này thèm nghe những tiếng chân trai gái làng bước đều quanh năm, theo mùa màng, bước đều theo vui buồn, no đói hàng hàng thập kỷ. Đất xứ Nghệ biết thử thách ý chí, lòng kiên trung, biết giữ ai tận hiếu, biết đẩy đuổi kẻ phản nghịch, kẻ bất hiếu, biết níu chân níu tay những tấm lòng son sắt.
Đất xứ Nghệ mạch lạc, núi là núi, đồi là đồi, ruộng là ruộng, bờ bãi là bờ bãi, không pha tạp, không lưỡng tính, đất mặn, đất ngọt, đất sỏi đá hay đất cát pha, ở đâu trên vùng quê này đất cũng trở nên hồn vía, linh thiêng theo đời người, âm thầm mà dữ dội sinh ra tính cách, tính cách người xứ Nghệ mộc như đất, nói yêu là yêu chết đi sống lại cũng yêu, nói ghét thì dâng vàng dâng bạc cũng cứ ghét, nói no là no, nói đói là đói, ăn không cần mời, mời khách không cần đãi bôi, đói thì sà vào mâm cùng ăn, no thì uống bát nước chè cười với chủ, rành mạch như thế, như mạch đất, sống dễ, bao dung và thân thiện tự bao đời.
Với người xứ Nghệ, buồn vui gì cũng gắn chặt với đất. Mà có lẽ thế, đời này sang đời khác, đất xứ Nghệ bỗng hòa đồng cùng tiếng thở, cùng vui buồn của người xứ Nghệ, rồi trong thăm thẳm đất đai ấy, bỗng vỡ òa một tiếng ngân chăng, một tiếng hò chăng, mà sau này, tiếng hò, tiếng ngân ấy, lời than thở ấy, tiếng ca vui buồn tha thiết ấy lưu truyền trên những dòng sông, trên bờ bãi, từ cánh đồng vào ngõ nhà, từ người già sang người trẻ, để sinh ra tiếng hát của đất chăng?
Hãy lắng nghe trong tĩnh lặng của đêm, tĩnh lặng của tâm, tĩnh lặng của lòng vòng vọng dội về một tiếng hò ví, giặm…Ban đầu như âm u xa thăm thẳm tiếng sóng vỗ nhẹ vào bờ, sau rồi câu hát ví, giặm ấy dâng tràn trong tim, trong trí não, trong ký ức, đôi khi hát bằng những khóe miệng cười tươi tắn, đôi khi hát cùng nước mắt, đôi khi hát trong nỗi nhớ xao xuyến, nhớ ai đó cháy ruột cháy gan, nỗi nhớ mang tên ví- giặm thôi nhưng sâu thăm thẳm, cao vời vợi, nhớ hồn nhớ vía mà em ngồi đan áo kim đâm vào tay, em xuống ruộng cấy lúa mà bùn văng vào mắt, anh lên đốn củi mà dao bổ vào chân, anh xuống thuyền chèo mà răng va vào mui, đó là hồn cốt ví- giặm, là lời của đất, là đất hát…
Không phải vùng đất nào cũng có thể sinh ra những câu hò.
Không phải đâu cũng có thể là nguồn cội cho lời ca tiếng hát.
Không phải nơi nào cũng có thể cống hiến cho nhân loai bản sắc văn hóa độc đáo, như xứ Nghệ đang cống hiến cho nhân loại ví- giặm quê mình.
Xứ Nghệ không chỉ tạo nên những người hùng, những thiên tài, xứ Nghệ là đất hát, là những câu ví –giặm mà bất cứ nơi đâu trên thế gian, chỉ cần nghe giai điệu thôi, giai điệu mềm và ngân, xa xót mà bóng mượt, giai điệu không cần phiên dịch thì người nghe đã có thể thấm, đã có thể say, đã có thể nao núng trước cái tình, cái nghĩa…mần răng chịu được đây.
Không phải ở đâu đất cũng hát.
Đất xứ Nghệ hát. Bắt đầu những thanh ba êm ả từ những dòng sông nhỏ, rồi ào ào âm thanh trên sông Lam, rồi vi vút cao vời trên những đỉnh núi, rồi đột ngột hạ thấp xuống bờ bãi biển khơi, rồi chơi vơi trên những ngọn tre làng, mơn man trên đồng lúa, day dứt ở những ngõ làng, sẽ sàng trên những ao sen….
Đất xứ Nghệ tạo cơ hội cho người xứ Nghệ trải lòng bằng lời ví, giặm.
Yêu cũng ví, giặm. Giận hờn cũng ví, giặm. Nhớ thương cũng ví, giặm. Đau đớn cũng ví, giặm. Hóa ra đất xứ Nghệ sinh ra ví, giặm để gửi vào đó thân phận mình, cuộc sống của mình, đất chính là người, hồn đất hòa quyện với hồn người, mong manh đấy nhưng vững bền đấy, tất cả đều nhờ vào ví, giặm chở đi tấm lòng, chở đi câu hát, chở đi nỗi nhớ, chở đi tâm sự, chỉ là tâm sự mộc mạc ấy thôi mà người đi thì đi không dứt, người ở thì ở không đành, ra khỏi xứ Nghệ, ở Bắc, ở Nam, ra cả thế giới, chỉ cất lên một lời hát ví, giặm- lời hát đất xứ Nghệ là ào tới nhau, là quấn quýt nhau, là yêu thương nhau, là che chở nhau, câu ví, giặm se duyên tình bằng hữu, tình yêu đôi lứa, tình bầu bạn…
Đêm đêm dưới những mái nhà, trong từng ngõ xóm, ngân lên một câu hát ru đã có thể làm chân ta như ríu lại, đã có thể nhìn thấy đâu đó chiếc võng kẽo kẹt, bà mẹ trẻ bế đứa con thơ, võng đung đưa theo lời ru, theo câu hát, từng nhịp từng lời, khoan nhặt như cánh võng, như cái neo lòng neo lại cả đêm dài trong ký ức của ta.
Đêm đêm, trên các nẻo đường, con trai con gái níu nhau theo từng câu hát ví, giặm, nhờ vào câu hát mà tỏ tình, mà thổn thức, mà chuyển đi thông điệp tình yêu, để rồi vào một thời khắc nào đó tinh tú nhất của đêm, câu ví, giặm kéo họ lại gần bên nhau, đặt một dấu yêu mặn và nồng, da diết, ngọt lành như lời hát.
Đêm đêm, vùi trong gối mềm, cô gái thổn thức cất lời trong nỗi nhớ người thương.
Đêm đêm, bà mẹ già cất lời hát trong niềm thương nhớ đứa con đang ở xa, chồng đang ở xa, hát trong nước mắt.
Đêm đêm, tôi nhớ em, tôi ngồi lặng im dưới trăng, chòng chọc nhìn lên vầng trăng, vươn nỗi nhớ về miền ví, giặm mong được thấy em.
Xứ Nghệ có ví, giặm cho tôi gặp em.
Xứ Nghệ có ví, giặm cho tôi nhớ em.
Xứ Nghệ có ví, giặm cho tôi níu giữ mình cùng cốc rượu với bạn bè.
Đất xứ Nghệ là đất hát
Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014
CÁT
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 23:06
(Các bác đọc mấy chuyện viết lung tung lang tang dùng nhiều chữ rất tục, các bác cứ mắng yêu nhà cháu viết tục, nay nhà cháu mần văn đọc đêm khuya cho ấm nhé)
Những hạt cát quê tôi như những khối thạch anh nhỏ xíu, ba cạnh, bốn cạnh, năm bảy cạnh và trắng lắm, trắng tựa gì nhỉ, như mạ tôi hay ví von, trắng như nước mắt. Hạt cát sắc cạnh ấy nhỡ vào mắt có thể làm sây sát, sưng tấy, đỏ hoe. Vài hạt cát thô ráp, nhọn sắc kia có thể làm chầy da, làm tổn thương thân thể. Nhưng khi cả triệu triệu hạt cát bên nhau, thành lớp, thành mái cát, thành động cát, thành doi cát, ta đặt bàn chân lên thấy êm ru, thấy mát tươi, thấy mềm như lụa. Ơ. Hóa ra những nỗi đau, những tổn thương, những số phận sắc nhọn nếu đứng một mình đôi khi gục ngã, đôi khi bị loại bỏ, đôi khi bị oan nghiệt, nhưng đứng hết bên nhau, lớp lớp bên nhau, như ngàn vạn cái cực, cái khổ, cả làng, cả thôn, cả xã dân tôi bên nhau, cái khổ xếp bên nhau, cứ thế, thì hình như không còn cái khổ nữa mà nỗi đau mềm lại, sự cực nhọc mềm lại, thân phận thua thiệt mềm lại, mềm hết lại như mái cát, để rồi làng trên xóm dưới, ùa òa tiếng cười, đạp trên nỗi cực khổ mà cười, mà nương tựa nhau như những hạt cát, thành sức mạnh, thành chí hướng, thành bờ lũy, chống lại cái cực, chống lại thân phận nghèo khó, chống lại những thua thiệt, cả ngàn ngàn con người quánh lại với nhau như thế, như cát thế, còn sợ chi bom đạn, sợ chi giông bão, sợ chi tai ương. Ba tôi, mạ tôi, dì tôi, cậu tôi, anh tôi...bà con làng xóm của tôi và cả tôi- những hạt cát NGƯỜI bên những hạt cát NGƯỜI, qua ngày, qua năm, tầng tầng lớp lớp trường tồn mãi như những động cát kia kìa. SỐNG.
Trên cát là phi lao. Những cây phi lao trên cát quê tôi là những cây lạ. Thân cây mọc không cao, cũng không thẳng. Gió bão chà đi xát lại, nắng nóng nung chín cả vỏ cây. Có lẽ thế, những thân cây phi lao như lưng những cụ già, da dẻ sần sùi, thân cuồn cuộn thành từng khúc, từng đụn, nhìn gân guốc, nhìn vừa thấy thương vừa thấy kính phục cái sức chịu đựng bền bỉ, gan góc, chai lỳ trước sự khắc nghiệt tột đỉnh của môi trường và khí hậu. Có những gốc phi lao chỉ còn sót lại mấy chỏm lá xanh, còn nữa là thân cành, còng queo, đầy thương tích qua nhiều lần gãy đổ, nhưng rễ cây thì choãi ra, vươn dài, bám sâu trong cát. Có những gốc phi lao chồng chất mấy gốc phi lao liền, cây này trồng nối cây kia, nhiều thế hệ cây cùng chung một gốc, đó là dấu vết của bàn tay con người trồng phi lao chắn cát, trồng đi trồng lại, cây này chết trồng cây khác, những cây tưởng chết lại cố sống, thành ra mới xuất hiện nhiều gốc phi lao mọc chen nhau ở một nơi. Những thân cây phi lao già bao giờ cũng lấm lem cát. Những hạt cát bay tới chen vào lấp đầy những vỏ cây sần sùi, khô cháy. Có những gốc cây già quá thì chết. Người làng đào những gốc cây ấy về làm củi đun. Có những buổi trưa, thời bé, tôi đi học về gọi mạ không thấy. Chạy ra sau cát. Từ xa, đã thấy tấm lưng cong gập của mạ với cái cuốc chim mòn vẹt trong tay, mạ hì hục đào những gốc cây phi lao chết về làm củi. Mạ gầy gò, da dẻ sần sùi như vỏ cây phi lao già, hai bàn tay chai sần, run run nâng cán cuốc bổ mạnh xuống thân cây. Mỗi lần thế, những giọt mồ hôi của mạ rơi xuống theo, tan khô trên cát.
Con gái con trai làng cát lớn lên, yêu, những nụ hôn đầu đời vương những hạt cát trên bờ môi, những hạt cát làm chứng những cuộc tình. Yêu thương nhau, cát là chăn đệm, là giường chiếu, là cả không gian êm như nhung lụa. Giận hờn nhau, cát là chỗ để chôn chân, để giẫy đạp, để gục mặt vào đấy mà khóc, mà kể lễ, nước mắt xuống cát thấm thật nhanh, ráo hoảnh. Cát che chắn sự hờn giận, vo lại những câu giận dỗi, để rồi, mở ra một sự bao dung bát ngát giữa người với người. Phải chăng vì thế, người quê cát của tôi nói năng thô mộc, to tát, thẳng băng, giận nói giận, thương nói thương, thương thì trường tồn, thủy chung như cát, giận thì bị gió thôi qua đi, cho qua mọi sự vướng bận, lại yêu thương, quấn quýt nhau như cát với cát.
Cát trắng quá nên cánh đồng không xanh nỗi. Quê tôi vật vã theo từng bữa ăn. Không đủ gạo thì rau cháo, khoai sắn. Nhưng để nuốt được rau cháo khoai sắn hàng ngày, hàng tháng, hàng năm, suốt đời phải có cách gì chứ. Cát mở đường cho người nghèo quê cát bằng những thẻo đất cát ẩm trồng ớt. Mùa hè, cát trắng, ớt đỏ, những khoảnh đỏ đan nhau dọc chân những triền cát, như những tấm thảm nhung, nhìn mê mẩn. Bữa ăn kèm ớt, cái vị cay làm người làng quên đi cái thiếu. Một quả ớt, một nhúm muối, có thể nuốt được mấy bát khoai, mấy củ sắn, một bát canh rau. Đời này truyền đời kia, thiếu ăn thì phải ăn ớt để bù cái ngon. Lâu thành quen. Nay trong bữa ăn của làng, không có ớt là không thành hương, thành vị. Âu đó cũng là sự bù đắp của cát.
Cát trắng, gió lào, bão lũ, chiến tranh, sự khắc nghiệt ấy mài dũa cho người làng cát tôi ý chí sống, niềm tin sống. Đến như con trai làng cát đã yêu là yêu đến chết, yêu tận cùng, có đuổi, có đánh, có xô, có đạp cũng lao vào yêu, không bỏ, không quay lưng, không chịu thua. Đến như đói thì chịu nhịn một bữa, hai bữa, ba bữa, để tìm cho ra cái ăn, dù phải đào phải húc, phải cào phải cấu, phải giành phải giật cũng không chịu buông tay đầu hàng số phận. Đến như sự học, dù ăn khoai, ăn cháo, dù nhịn mặc, nhịn ăn, đã học là học tới cùng, học không thua ai, học cho tới khi thành danh thành phận, học cho tới ngày về lại làng, đàng hoàng mà bước trên cát, đàng hoàng mà đứng trên cát, đàng hoàng mà chết trên cát, đàng hoàng suốt cuộc đời.
Tôi vẫn thường ra mộ ba mạ tôi thắp hương, bất kể ngày rằm, bất kể ngày giỗ, ngày lễ, ngày tết, hễ thấy nhớ ba nhớ mạ là tôi chạy ra động cát, mang theo cả ấm trà, cả manh chiếu, rồi thắp hương, rồi trải chiếu, pha trà, ngồi nói chuyện huyên thuyên trên trời dưới biển với ngôi mộ ba mạ. Và tôi nhìn thấy hình như dưới những ngôi mộ này còn là ngôi mộ khác, dưới những ngôi mộ khác còn là lớp lớp những ngôi mộ khác nữa. Động cát chất chứa bao nhiêu ngôi mộ, bao nhiêu thân xác, bao nhiêu hồn vía nhiều đời của người làng tôi. Và trên cát, lại lớp lớp thế hệ khác, như những mầm sống, như chồi cây xương rồng, tiếp tục vươn lên, tiếp tục đâm chồi và sống.
Sau những cơn mưa, cát phẳng lỳ, in rất rõ những dấu chân bé thơ chạy trên mặt cát, in rất rõ những dấu chân bước loạng choạng, run run của người già trên mặt cát, in rất rõ cả những bàn tay yêu chập vào nhau trên mặt cát, in rất rõ cả những dấu chân con nhông chạy kiếm ăn trên cát. Sau đó là nở xòe những thân nấm cát, trắng muốt. Sau đó là những tiếng gió thổi vu vơ, thổi nhẹ mát trên những gợn sóng cát đã đẫm nước. Và hình như có một đôi dấu chân con gái con trai, in đậm, xê dịch, lúng túng, hồ hởi, vồ vập nhau sau một gốc cây phi lao già.
Ngày ba mạ tôi mất, huyệt cát chôn ba mạ bên chân tôi, cảm giác người sống và người ra đi sao gần quá, gần tới mức hình như cái chết không tồn tại ở miền cát này, chỉ có sự sống nối sự sống, sự sống trên cuộc đời vẫn liên kết, nối mãi với sự sống dưới cát kia, khăng khít, thương yêu, mãi mãi trường tồn như vậy. Vì thế, ở làng cát quê tôi, cái chết là cách đã đến lúc người ta đi vào cát thôi, đi sâu vào cát thôi, thế thôi, chứ không phải chết.
Tôi tin như thế.
Những hạt cát quê tôi như những khối thạch anh nhỏ xíu, ba cạnh, bốn cạnh, năm bảy cạnh và trắng lắm, trắng tựa gì nhỉ, như mạ tôi hay ví von, trắng như nước mắt. Hạt cát sắc cạnh ấy nhỡ vào mắt có thể làm sây sát, sưng tấy, đỏ hoe. Vài hạt cát thô ráp, nhọn sắc kia có thể làm chầy da, làm tổn thương thân thể. Nhưng khi cả triệu triệu hạt cát bên nhau, thành lớp, thành mái cát, thành động cát, thành doi cát, ta đặt bàn chân lên thấy êm ru, thấy mát tươi, thấy mềm như lụa. Ơ. Hóa ra những nỗi đau, những tổn thương, những số phận sắc nhọn nếu đứng một mình đôi khi gục ngã, đôi khi bị loại bỏ, đôi khi bị oan nghiệt, nhưng đứng hết bên nhau, lớp lớp bên nhau, như ngàn vạn cái cực, cái khổ, cả làng, cả thôn, cả xã dân tôi bên nhau, cái khổ xếp bên nhau, cứ thế, thì hình như không còn cái khổ nữa mà nỗi đau mềm lại, sự cực nhọc mềm lại, thân phận thua thiệt mềm lại, mềm hết lại như mái cát, để rồi làng trên xóm dưới, ùa òa tiếng cười, đạp trên nỗi cực khổ mà cười, mà nương tựa nhau như những hạt cát, thành sức mạnh, thành chí hướng, thành bờ lũy, chống lại cái cực, chống lại thân phận nghèo khó, chống lại những thua thiệt, cả ngàn ngàn con người quánh lại với nhau như thế, như cát thế, còn sợ chi bom đạn, sợ chi giông bão, sợ chi tai ương. Ba tôi, mạ tôi, dì tôi, cậu tôi, anh tôi...bà con làng xóm của tôi và cả tôi- những hạt cát NGƯỜI bên những hạt cát NGƯỜI, qua ngày, qua năm, tầng tầng lớp lớp trường tồn mãi như những động cát kia kìa. SỐNG.
Trên cát là phi lao. Những cây phi lao trên cát quê tôi là những cây lạ. Thân cây mọc không cao, cũng không thẳng. Gió bão chà đi xát lại, nắng nóng nung chín cả vỏ cây. Có lẽ thế, những thân cây phi lao như lưng những cụ già, da dẻ sần sùi, thân cuồn cuộn thành từng khúc, từng đụn, nhìn gân guốc, nhìn vừa thấy thương vừa thấy kính phục cái sức chịu đựng bền bỉ, gan góc, chai lỳ trước sự khắc nghiệt tột đỉnh của môi trường và khí hậu. Có những gốc phi lao chỉ còn sót lại mấy chỏm lá xanh, còn nữa là thân cành, còng queo, đầy thương tích qua nhiều lần gãy đổ, nhưng rễ cây thì choãi ra, vươn dài, bám sâu trong cát. Có những gốc phi lao chồng chất mấy gốc phi lao liền, cây này trồng nối cây kia, nhiều thế hệ cây cùng chung một gốc, đó là dấu vết của bàn tay con người trồng phi lao chắn cát, trồng đi trồng lại, cây này chết trồng cây khác, những cây tưởng chết lại cố sống, thành ra mới xuất hiện nhiều gốc phi lao mọc chen nhau ở một nơi. Những thân cây phi lao già bao giờ cũng lấm lem cát. Những hạt cát bay tới chen vào lấp đầy những vỏ cây sần sùi, khô cháy. Có những gốc cây già quá thì chết. Người làng đào những gốc cây ấy về làm củi đun. Có những buổi trưa, thời bé, tôi đi học về gọi mạ không thấy. Chạy ra sau cát. Từ xa, đã thấy tấm lưng cong gập của mạ với cái cuốc chim mòn vẹt trong tay, mạ hì hục đào những gốc cây phi lao chết về làm củi. Mạ gầy gò, da dẻ sần sùi như vỏ cây phi lao già, hai bàn tay chai sần, run run nâng cán cuốc bổ mạnh xuống thân cây. Mỗi lần thế, những giọt mồ hôi của mạ rơi xuống theo, tan khô trên cát.
Con gái con trai làng cát lớn lên, yêu, những nụ hôn đầu đời vương những hạt cát trên bờ môi, những hạt cát làm chứng những cuộc tình. Yêu thương nhau, cát là chăn đệm, là giường chiếu, là cả không gian êm như nhung lụa. Giận hờn nhau, cát là chỗ để chôn chân, để giẫy đạp, để gục mặt vào đấy mà khóc, mà kể lễ, nước mắt xuống cát thấm thật nhanh, ráo hoảnh. Cát che chắn sự hờn giận, vo lại những câu giận dỗi, để rồi, mở ra một sự bao dung bát ngát giữa người với người. Phải chăng vì thế, người quê cát của tôi nói năng thô mộc, to tát, thẳng băng, giận nói giận, thương nói thương, thương thì trường tồn, thủy chung như cát, giận thì bị gió thôi qua đi, cho qua mọi sự vướng bận, lại yêu thương, quấn quýt nhau như cát với cát.
Cát trắng quá nên cánh đồng không xanh nỗi. Quê tôi vật vã theo từng bữa ăn. Không đủ gạo thì rau cháo, khoai sắn. Nhưng để nuốt được rau cháo khoai sắn hàng ngày, hàng tháng, hàng năm, suốt đời phải có cách gì chứ. Cát mở đường cho người nghèo quê cát bằng những thẻo đất cát ẩm trồng ớt. Mùa hè, cát trắng, ớt đỏ, những khoảnh đỏ đan nhau dọc chân những triền cát, như những tấm thảm nhung, nhìn mê mẩn. Bữa ăn kèm ớt, cái vị cay làm người làng quên đi cái thiếu. Một quả ớt, một nhúm muối, có thể nuốt được mấy bát khoai, mấy củ sắn, một bát canh rau. Đời này truyền đời kia, thiếu ăn thì phải ăn ớt để bù cái ngon. Lâu thành quen. Nay trong bữa ăn của làng, không có ớt là không thành hương, thành vị. Âu đó cũng là sự bù đắp của cát.
Cát trắng, gió lào, bão lũ, chiến tranh, sự khắc nghiệt ấy mài dũa cho người làng cát tôi ý chí sống, niềm tin sống. Đến như con trai làng cát đã yêu là yêu đến chết, yêu tận cùng, có đuổi, có đánh, có xô, có đạp cũng lao vào yêu, không bỏ, không quay lưng, không chịu thua. Đến như đói thì chịu nhịn một bữa, hai bữa, ba bữa, để tìm cho ra cái ăn, dù phải đào phải húc, phải cào phải cấu, phải giành phải giật cũng không chịu buông tay đầu hàng số phận. Đến như sự học, dù ăn khoai, ăn cháo, dù nhịn mặc, nhịn ăn, đã học là học tới cùng, học không thua ai, học cho tới khi thành danh thành phận, học cho tới ngày về lại làng, đàng hoàng mà bước trên cát, đàng hoàng mà đứng trên cát, đàng hoàng mà chết trên cát, đàng hoàng suốt cuộc đời.
Tôi vẫn thường ra mộ ba mạ tôi thắp hương, bất kể ngày rằm, bất kể ngày giỗ, ngày lễ, ngày tết, hễ thấy nhớ ba nhớ mạ là tôi chạy ra động cát, mang theo cả ấm trà, cả manh chiếu, rồi thắp hương, rồi trải chiếu, pha trà, ngồi nói chuyện huyên thuyên trên trời dưới biển với ngôi mộ ba mạ. Và tôi nhìn thấy hình như dưới những ngôi mộ này còn là ngôi mộ khác, dưới những ngôi mộ khác còn là lớp lớp những ngôi mộ khác nữa. Động cát chất chứa bao nhiêu ngôi mộ, bao nhiêu thân xác, bao nhiêu hồn vía nhiều đời của người làng tôi. Và trên cát, lại lớp lớp thế hệ khác, như những mầm sống, như chồi cây xương rồng, tiếp tục vươn lên, tiếp tục đâm chồi và sống.
Sau những cơn mưa, cát phẳng lỳ, in rất rõ những dấu chân bé thơ chạy trên mặt cát, in rất rõ những dấu chân bước loạng choạng, run run của người già trên mặt cát, in rất rõ cả những bàn tay yêu chập vào nhau trên mặt cát, in rất rõ cả những dấu chân con nhông chạy kiếm ăn trên cát. Sau đó là nở xòe những thân nấm cát, trắng muốt. Sau đó là những tiếng gió thổi vu vơ, thổi nhẹ mát trên những gợn sóng cát đã đẫm nước. Và hình như có một đôi dấu chân con gái con trai, in đậm, xê dịch, lúng túng, hồ hởi, vồ vập nhau sau một gốc cây phi lao già.
Ngày ba mạ tôi mất, huyệt cát chôn ba mạ bên chân tôi, cảm giác người sống và người ra đi sao gần quá, gần tới mức hình như cái chết không tồn tại ở miền cát này, chỉ có sự sống nối sự sống, sự sống trên cuộc đời vẫn liên kết, nối mãi với sự sống dưới cát kia, khăng khít, thương yêu, mãi mãi trường tồn như vậy. Vì thế, ở làng cát quê tôi, cái chết là cách đã đến lúc người ta đi vào cát thôi, đi sâu vào cát thôi, thế thôi, chứ không phải chết.
Tôi tin như thế.
Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014
EM LÀ VÍ GIẶM SUỐT ĐỜI TÔI YÊU
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 22:48
Chỉ mong cuộc đời bình an để nhà văn có thể nhẩn nha viết những dòng văn.
Bài viết mới nhất, tôi tặng những người bạn tôi xứ Nghệ- Tĩnh
---------------------
Đã rất nhiều lần tôi đi qua đất xứ Nghệ, lần nào cũng muốn qua nhanh, nhưng thất bại. Đất xứ Nghệ như có ma lực, cứ níu lấy tôi, như dây chão níu thuyền, dây chão mảnh mai thế thôi, mềm mại thế thôi, chùng chằng thế thôi mà thuyền muốn vùng vằng rời bờ mà đâu có rời được…mồ ( chữ người xứ Nghệ). Lại nhớ câu thơ Huy Cận: “Tình xứ Nghệ không mau/Nhưng bén rồi sâu lắng/ Quen xứ Nghệ, quen lâu/Càng tình sâu nghĩa nặng”...
Bài viết mới nhất, tôi tặng những người bạn tôi xứ Nghệ- Tĩnh
---------------------
Đã rất nhiều lần tôi đi qua đất xứ Nghệ, lần nào cũng muốn qua nhanh, nhưng thất bại. Đất xứ Nghệ như có ma lực, cứ níu lấy tôi, như dây chão níu thuyền, dây chão mảnh mai thế thôi, mềm mại thế thôi, chùng chằng thế thôi mà thuyền muốn vùng vằng rời bờ mà đâu có rời được…mồ ( chữ người xứ Nghệ). Lại nhớ câu thơ Huy Cận: “Tình xứ Nghệ không mau/Nhưng bén rồi sâu lắng/ Quen xứ Nghệ, quen lâu/Càng tình sâu nghĩa nặng”...
Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014
TIẾNG CHUÔNG
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 00:51
Đêm ở đâu, nếu ta biết đợi, nếu ta lắng tâm, thế nào cũng nghe vòng vọng những tiếng chuông chùa.
Tiếng chuông chùa ngân rất xa, ngân rất trong, không phải là ngân trong không gian, nó ngân trong lòng mình, trong tâm mình, nhẹ lắm mà rung động lắm, mỏng manh lắm mà uy lực lắm, vì ta có thể tựa đời mình vào tiếng chuông ngân, để tự cứu rỗi, để tự an ủi, để tự tĩnh tại, để thêm cho mình sức mạnh mới về tinh thần, để cháy khát ngọn lửa của sự thanh tao....
Không có sự thong dong nào hơn thế, như từng nhịp từng nhịp của tiếng chuông chùa trong đêm tĩnh lặng, nó vang lên, từng nhịp, đều đặn như thế, ngân nga như thế, chao liệng trong không gian như một lời ru, như cái lay nhẹ trong vô thức, an ủi phận người, thức tỉnh tâm can, bao bọc và vuốt ve tâm thế, cứ thả mình trôi đi trong tiếng chuông, bạn sẽ thấy cuộc đời rất nhẹ, cuộc đời rất trong, cuộc đời rất đẹp đẽ và ấm áp....
Từ ngàn xưa, cái gốc tích đầu tiên nhà Phật làm nên đại hồng chung là để gửi cho đời tiếng chuông, là để cảnh báo, là để nhắc nhở, là để bao dung, là để níu giữ phần hồn trong trẽo của phận người, xô đẩy thật xa cái ác, kéo lại thật gần điều thiện, chỉ có điều thiện thôi là mãi mãi nhẹ, nhẹ như chính tiếng chuông ngân giữa trời, giữa đất...
Chỉ cần một lần, trong đêm,bạn kiên nhẫn đợi một tiếng chuông chùa, đợi và đếm, đợi và đếm, và thụ hưởng âm thanh cao cả, thánh thiện, tao nhã, lay động của tiếng chuông, chắc chắn lúc đó, trong bạn đầy ắp điều thiện, đầy ắp cảm khái về cuộc sống, đầy ắp tình thương yêu con người, nội lực trở nên mạnh mẽ, tâm thế trở nên vững vàng, trí tuệ trở nên thông mẫn.
Tôi không là phật tử.
Nhưng tôi yêu tiếng chuông chùa nhà Phật.
Tiếng chuông chùa là cốt cách, là tận cùng cao cả của thiền.
Boong....boong....oong....

Tiếng chuông chùa ngân rất xa, ngân rất trong, không phải là ngân trong không gian, nó ngân trong lòng mình, trong tâm mình, nhẹ lắm mà rung động lắm, mỏng manh lắm mà uy lực lắm, vì ta có thể tựa đời mình vào tiếng chuông ngân, để tự cứu rỗi, để tự an ủi, để tự tĩnh tại, để thêm cho mình sức mạnh mới về tinh thần, để cháy khát ngọn lửa của sự thanh tao....
Không có sự thong dong nào hơn thế, như từng nhịp từng nhịp của tiếng chuông chùa trong đêm tĩnh lặng, nó vang lên, từng nhịp, đều đặn như thế, ngân nga như thế, chao liệng trong không gian như một lời ru, như cái lay nhẹ trong vô thức, an ủi phận người, thức tỉnh tâm can, bao bọc và vuốt ve tâm thế, cứ thả mình trôi đi trong tiếng chuông, bạn sẽ thấy cuộc đời rất nhẹ, cuộc đời rất trong, cuộc đời rất đẹp đẽ và ấm áp....
Từ ngàn xưa, cái gốc tích đầu tiên nhà Phật làm nên đại hồng chung là để gửi cho đời tiếng chuông, là để cảnh báo, là để nhắc nhở, là để bao dung, là để níu giữ phần hồn trong trẽo của phận người, xô đẩy thật xa cái ác, kéo lại thật gần điều thiện, chỉ có điều thiện thôi là mãi mãi nhẹ, nhẹ như chính tiếng chuông ngân giữa trời, giữa đất...
Chỉ cần một lần, trong đêm,bạn kiên nhẫn đợi một tiếng chuông chùa, đợi và đếm, đợi và đếm, và thụ hưởng âm thanh cao cả, thánh thiện, tao nhã, lay động của tiếng chuông, chắc chắn lúc đó, trong bạn đầy ắp điều thiện, đầy ắp cảm khái về cuộc sống, đầy ắp tình thương yêu con người, nội lực trở nên mạnh mẽ, tâm thế trở nên vững vàng, trí tuệ trở nên thông mẫn.
Tôi không là phật tử.
Nhưng tôi yêu tiếng chuông chùa nhà Phật.
Tiếng chuông chùa là cốt cách, là tận cùng cao cả của thiền.
Boong....boong....oong....

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013
ĐIỂN HÌNH CHUNG THỦY.
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 14:22
(Trích chương 26- tiểu thuyết CÁT TRỌC ĐẦU)
Hôm qua tao đến thăm bà chị họ. Chị ấy lấy chồng được một tháng thì anh ấy đi bộ đội. Đi miết bao nhiêu năm không tin tức. Rồi nghe tin anh ấy hy sinh. Nghe thế thôi, cũng chẳng có giấy báo tử. Nhưng chị tao vẫn chờ. Ngày đêm tận tuỵ phục vụ nhà chồng. Tuổi thanh xuân đi qua lúc nào không biết. Năm nào tổng kết, phụ nữ xã cũng mời chị ấy đi báo cáo thành tích. Nụ ngạc nhiên, thành tích gì? Sản xuất giỏi à? Không. Thành tích chung thuỷ. Năm nào chị tao cũng được xã huyện ca ngợi là người vợ chung thuỷ. Cho đến vừa rồi thì chị ấy không đi dự hội nghị biểu dương nữa.
Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013
EM BÉ BÁN CÁT
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 15:03
Như thế làTết thứ ba, dọc đường vào chợ xuân Đồng Hới, tôi lại gặp em ngồi đấy, đúng chỗ ấy, hai tay vân vê chậu cát trắng tinh. Em tên Thảo, 13 tuổi, còi cọc, phong phanh áo xống, co ro trong gió lạnh buốt xương, chiếc nón cời đặt bên cạnh, trong đó đựng cái ống bơ dùng để đong cát.
Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013
SÔNG GIANH MÙA CHẮT CHẮT
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 00:05
SÔNG GIANH MÙA CHẮT CHẮT
Hình như mình nhớ, con hến bé xíu ở Huế làm ra cơm hến thì người Quảng Bình gọi là con chắt chắt.
Dân quê mình vẫn thường gọi con Chắt Chắt là lộc của cát. Sự khô cháy của cát, rát bỏng của cát, kiệt cùng của cát đã như nỗi đau sinh nở tạo nên những con Chát Chắt trong đời sống của người vùng cát bên sông Gianh. Chắt Chắt như con hến nhưng rất bé,thân chỉ như hạt đỗ, nằm dưới đáy sông, là món ăn bổ, mát, dân dã, có bán ở hầu hết các chợ lớn bé ở nhiều tỉnh thành. Nhưng không phải khúc sông nào cũng có Chắt Chắt. Như dòng sông Gianh ở Quảng Bình dài hơn cả trăm cây số này thì chỉ có đoạn sông qua xã Phù Hoá là có Chắt Chắt. Hàng bao đời nay, với những người dân nghèo Phù Hoá, Tiến Hoá, Cảnh Hoá, Văn Hoá, Quảng Tiên,Quảng Liên,nghề xúc Chắt Chắt trên sông Gianh đã giúp cho hàng trăm gia đình nghèo thoát qua khỏi kì giáp hạt, hơn thế, còn cho họ một khoản thu nhập không nhỏ để trụ vững với đời sống khốn khó, nuôi con cái học hành, sắm được manh áo, tấm quần...
ÔNG ĐÁI LÙN
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 00:02
ÔNG ĐÁI LÙN
Ông không sinh ra tại làng. Quê gốc của ông nghe nói cách làng mình rất xa.
Người ta đồn nhau, khi sinh ra, thân ông chỉ ngắn một gang
tay, cái đầu vừa bẹt vừa sần sùi, không phân biệt nổi đâu là
mũi, đâu là miệng. Có mấy người đàn bà đi bán rượu sớm nhặt được ông giữa trãng cát, không biết đây là đứa bé, là con người lại ngỡ con thú lạ ở đâu chaỵ tới, họ túm vào trong tay nải, hồ hởi xách về nhà. Loạng choạng sáng, mấy tay đàn ông bợm rượu xách dao ra, lôi cổ thằng bé đang ngủ say tới bên cạnh giếng nước để chuẩn bị làm thịt. Mấy bà mấy cô xăng xái đun nước. Người ta bàn cãi nhau chí chóe rằng nên nấu giả cầy hay luộc quách, mỗi nhà cắt một miếng cho tiện. Rốt cuộc, khi nước đã sôi, người ta cũng thống nhất là nấu giả cầy. Hai gã đàn ông xách ngược thằng bé lên, chuẩn bị chọc tiết. Vừa lúc thằng bé tỉnh giấc, khóc váng óc. Cả mấy gã đàn ông buông dao chạy. Một ông già bình tĩnh hơn cầm đèn ra soi, vẫn không rõ con thú gì béo núc nhưng lại biết khóc như người. Xem xét kỹ lưỡng, lật qua lật về thì hóa ra là một đứa bé thật. Sáng tỏ mặt người, mới thật tin đó là một đứa bé. Nhưng ai cũng lắc đầu thè lưỡi, thằng bé xấu như ma mút, lại ngắn cũn, ngắn đến kì cục, đen thui như một con chồn. Vất vưỡng nhà này năm ngày, nhà kia nửa tháng, thằng bé cũng lớn dần, khỏe, tròn lẳn như củ khoai nướng. Cho đến thời điểm cao nhất của tuổi hai mươi, anh Lùn cao chín mươi hai phân già.
mũi, đâu là miệng. Có mấy người đàn bà đi bán rượu sớm nhặt được ông giữa trãng cát, không biết đây là đứa bé, là con người lại ngỡ con thú lạ ở đâu chaỵ tới, họ túm vào trong tay nải, hồ hởi xách về nhà. Loạng choạng sáng, mấy tay đàn ông bợm rượu xách dao ra, lôi cổ thằng bé đang ngủ say tới bên cạnh giếng nước để chuẩn bị làm thịt. Mấy bà mấy cô xăng xái đun nước. Người ta bàn cãi nhau chí chóe rằng nên nấu giả cầy hay luộc quách, mỗi nhà cắt một miếng cho tiện. Rốt cuộc, khi nước đã sôi, người ta cũng thống nhất là nấu giả cầy. Hai gã đàn ông xách ngược thằng bé lên, chuẩn bị chọc tiết. Vừa lúc thằng bé tỉnh giấc, khóc váng óc. Cả mấy gã đàn ông buông dao chạy. Một ông già bình tĩnh hơn cầm đèn ra soi, vẫn không rõ con thú gì béo núc nhưng lại biết khóc như người. Xem xét kỹ lưỡng, lật qua lật về thì hóa ra là một đứa bé thật. Sáng tỏ mặt người, mới thật tin đó là một đứa bé. Nhưng ai cũng lắc đầu thè lưỡi, thằng bé xấu như ma mút, lại ngắn cũn, ngắn đến kì cục, đen thui như một con chồn. Vất vưỡng nhà này năm ngày, nhà kia nửa tháng, thằng bé cũng lớn dần, khỏe, tròn lẳn như củ khoai nướng. Cho đến thời điểm cao nhất của tuổi hai mươi, anh Lùn cao chín mươi hai phân già.
GỐC LÀNG
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 00:01
GỐC LÀNG
Năm thằng khật khưởng đùn đẩy nhau trèo qua những động cát khô rạp dưới nắng.
Suốt ba ngày, cả năm thằng như câm. Vũ khí, lương thực, áo quần, vứt hết, chỉ
còn trong tay mỗi thằng một bầu rượu. Rượu lôi kéo
năm thằng kết với nhau thành tình huynh đệ, xô đẩy họ vào âm mưu trốn chạy khỏi doanh trại, thoát thân khỏi cuộc binh
đao đang ngày càng khốc liệt ở bờ bắc sông Linh Giang, vái hai lạy vì tội khi quân,
bỏ Chúa, bỏ binh, cả năm thằng im lặng thoát thân, chạy không ngoái đầu, phiêu
diêu ngất ngưỡng giữa trùng trùng cồn cát, trắng như nước mắt.
Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013
DẺ QUÊ
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 23:57
DẺ QUÊ
Cứ vào dịp cuối năm,
một chút gió heo may, một chút mưa rất nhẹ, không gian đang chuyển sang xuân,
như thế là vào mùa dẻ ra hoa. Năm nào tôi cũng lên rừng dẻ Quảng Lưu và ngắm dẻ
ra hoa. Hoa dẻ nở bung ra bé xíu như đồng tiền, trắng phau, cả rừng dẻ bùng lên
một màu trắng của hoa trông như đêm qua tuyết mới rơi, còn đọng lại chút bông
tuyết trên những ngách lá xanh thẩm.
Hoa dẻ ra vào đầu mùa xuân. Một cây dẻ nhìn thấy cả
một vòm hoa trắng xoá đã sướng mắt. Một rừng dẻ 2000 hecta như rừng dẻ xã Quảng
Lưu (huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình)- rừng dẻ được chính nhân dân tự bảo vệ
và chăm sóc- là cả một vòm trời hoa trắng, nở bung ra sức lực, tê dại mắt nhìn.
NÓI VỚI MÌNH CHÚT THÔI
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 22:39
NÓI VỚI MÌNH CHÚT THÔI
Lâu rồi, hoặc hình như là chưa bao giờ, mình lại ngồi ở ghế đá cạnh hồ Gươm như thế này. Mặt hồ biếc xanh và lơ đãng nhìn mình. Còn mình thì lơ đãng nhìn Hà Nội. Trước mặt mình, trên một chiếc ghế đá khác, một đôi bạn trẻ hôn nhau chùn chụt. Nụ hôn ban ngày bên mặt hồ Gươm xanh lơ đãng nên mình thấy hình như đó cũng là nụ hôn lỡ đãng thôi. Dưới đáy hồ, mấy Cụ Rùa có lẽ đang ngủ. Cụ già rồi, nghe nói cả ngàn năm tuổi rồi, nên Cụ chẳng màng đến tết. Nếu ai đó chúc thọ cụ sống lâu muôn tuổi thì cụ cũng chẳng cảm động, vì cái tuổi ngàn thu này của Cụ, Cụ hết cảm động.
Lâu rồi, hoặc hình như là chưa bao giờ, mình lại ngồi ở ghế đá cạnh hồ Gươm như thế này. Mặt hồ biếc xanh và lơ đãng nhìn mình. Còn mình thì lơ đãng nhìn Hà Nội. Trước mặt mình, trên một chiếc ghế đá khác, một đôi bạn trẻ hôn nhau chùn chụt. Nụ hôn ban ngày bên mặt hồ Gươm xanh lơ đãng nên mình thấy hình như đó cũng là nụ hôn lỡ đãng thôi. Dưới đáy hồ, mấy Cụ Rùa có lẽ đang ngủ. Cụ già rồi, nghe nói cả ngàn năm tuổi rồi, nên Cụ chẳng màng đến tết. Nếu ai đó chúc thọ cụ sống lâu muôn tuổi thì cụ cũng chẳng cảm động, vì cái tuổi ngàn thu này của Cụ, Cụ hết cảm động.
TỰ DO
By:
NGUYỄN QUANG VINH
On: 22:38
TỰ DO
Bức tường rào ngăn cách trại giam với thế giới bên ngoài được xây kín mít, phía trên đỉnh tường còn chạy hàng rào dây kẽm gai. Trong kia là một thế giới khác, giam giữ những thân phận phạm lỗi lầm với xã hội, số đã được xét xử, số nữa đang chờ ngày ra toà hay đang trong thời gian điều tra, hỏi cung, phúc cung. Ngoài này là mênh mông những vùng đồi, cây cối um tùm, xanh ngắt, xa hơn nữa là cánh đồng lúa, và bên kia cánh đồng lúa là những mảnh làng mà chiều nào cũng có những đám khói trắng mềm như lụa vương hoài trên nóc bếp.
Bức tường rào ngăn cách trại giam với thế giới bên ngoài được xây kín mít, phía trên đỉnh tường còn chạy hàng rào dây kẽm gai. Trong kia là một thế giới khác, giam giữ những thân phận phạm lỗi lầm với xã hội, số đã được xét xử, số nữa đang chờ ngày ra toà hay đang trong thời gian điều tra, hỏi cung, phúc cung. Ngoài này là mênh mông những vùng đồi, cây cối um tùm, xanh ngắt, xa hơn nữa là cánh đồng lúa, và bên kia cánh đồng lúa là những mảnh làng mà chiều nào cũng có những đám khói trắng mềm như lụa vương hoài trên nóc bếp.
LỜI THỀ - TIỂU THUYẾT (Phần 9- HẾT)
By:
Unknown
On: 13:07
38.
Chỉ
mấy ngày, nhờ thuận gió, thuận sóng, thuyền chiến nước Việt đã ra tới đảo
Nước Lửa. Lý Nhất, Lý Đạt đón thuyền mừng lắm. Quân binh, thủy binh tay bắt mặt
mừng rồi nhanh chóng giấu quân về các đảo lân cận.
Phó
tướng Thủy binh của triều đình được Lý Nhất đưa đi thám sát đảo Nước Lửa.
Phó
tướng hỏi:
-Ta
nghe đảo này có thứ nước lửa quý giá, thực hư ra sao mà Bắc triều lại thèm khát
đến vậy?
Lý
Nhất nói:
-Nước
lửa là có, nhưng nằm sâu lắm, sâu không biết chỗ nào, nhưng hơi khí của nó bốc
lên có thể bén lửa, có thể cho lẫn vào nước thì đốt cháy được.
Phó
tướng gật đầu:
-Thế
thì Bắc triều thèm là phải. Kẻ yếu thèm thì nuốt nước bọt, kẻ mạnh lại ngông
cuồng khi thèm thì muốn tìm mọi cách chiếm lấy.
Lý
Đạt nói:
-Thưa
Phó tướng, nếu Bắc triều xua quân đánh, ta không sợ. Ta ở đảo, thuyền chiến của
họ muốn vào thì phải dừng cách đảo mấy dặm, thủy binh họ muốn lên đảo lại phải
dùng thuyền nhỏ. Những khó khăn đó sẽ làm họ bị động, nếu ta quyết đánh, trận
nào cũng thắng.
Phó
tướng nhìn khắp mặt đảo:
-Trận
vừa rồi, ta thắng lớn nhưng anh em cũng thiệt hại nhiều, mất một người cũng làm
Hoàng thượng mất ăn mất ngủ. Vì thế, ta phụng mệnh Hoàng thượng ra là cùng các
ngài nghĩ được cách đánh, cách vây, cách hãm thủy binh Bắc triều, làm sao thắng
lớn mà thiệt hại bé, đó là mong muốn của Hoàng thượng.
Lý
Nhất nói:
-Xin
Phó tướng hãy về nói với Hoàng thượng, quân binh, thủy binh trên đảo giới không
tiếc tính mạng, miễn là bảo vệ được đất đai tiên tổ. Binh đao sống chết không thể
nói trước được. Còn một người vẫn không sợ.
Phó
tướng đặt tay lên vai Lý Nhất:
-Ta
có nghe, Lý Thắm của ngài sắp sinh nở, chuyện này đúng không?
Lý
Nhất nói:
-Thưa
Phó tướng, cũng vài tháng nữa nàng sẽ sinh con.
Phó
tướng băn khoăn:
-Không
nên để nàng lại đảo, tới đây tình hình không yên ổn, ta không an tâm.
Lý
Nhất nói:
-Nàng
muốn sinh con ở đảo này. Ta mới đầu cũng băn khoăn lắm nhưng rồi lại thấy, nếu
nàng không sinh con, nuôi con tại đảo, rồi đây còn ai dám làm điều đó?
X X
X
Nghe
tiếng vỏ ốc của thủy binh cảnh giới thổi từng hồi dài.
Xa
lắm, đã thấy đoàn thuyền sứ thần của Bắc triều đang tiến lại.
Trên
thuyền chiến của Bắc triều chở sứ thần các nước còn có các quan đại thần, có cả
Tể tướng. Chiến thuyền vừa thả neo thì Lý Nhất đã cho anh em thủy binh đưa
nhiều thuyền bé ra đón. Trên đảo lại cắm cờ xì khắp nơi, còn có cả cờ đại của
nước Việt, có cả đội quân binh thủy binh nước Việt xếp hai hàng nghênh đón, có
cả các cô gái Việt vẫy chào, các sứ thần nhìn nhau, há hốc mồm miệng, thế này
thì khác chi đi thăm thú nước Việt chứ liên quan gì tới Bắc triều. Tể tướng Bắc
triều quạu mặt xuống, bực bội. Lý Bật kín đáo che mặt vào áo mão tủm tỉm. Sứ
thần Lý Vân thì đứng trước mũi thuyền lớn, lòng đầy tự hào.
Một
cái lều vải lớn được dựng ở trung tâm đảo.
Đứng
đầu phía quốc gia nước Việt là sứ thần Lý Vân và Phó tướng thủy binh.
Phía
quốc gia Bắc triều là Tể tướng.
Phó
tướng thủy binh nước Việt ra tới tận mép đảo, thân chinh nghênh đón trịnh trọng
Tể tướng Bắc triều.
Sứ
thần Lý Vân cùng Lý Nhất và Lý Đạt vui vẻ đón chào sứ thần các nước.
Phía
Bắc triều mang theo mấy trăm quân binh, thủy binh, gươm giáo cung nỏ oai phong
lẫm liệt nhưng tất cả đều lớ ngớ không biết làm gì đành đứng túm tụm trên bờ,
trông như lũ con nít đi xem người lớn trẩy hội.
Các
mâm tiệc đã được bày sẵn: nào ốc, nào thịt ba ba, nào các loại cá biển, cả bánh
chưng đưa từ đất liền ra, rồi rượu ngô thơm lừng lững.
Khách
chủ vui vẻ ngồi bàn. Sứ thần Lý Vân đứng dậy:
-Nhờ
ân huệ của Hoàng đế Bắc triều, nay sứ thần Lý Vân ta và quan quân trên đảo giới
nước Việt lấy làm hoan hỉ, đón tiếp sứ thần các nước, thật không cơ hội nào có
được, lại được đón Tể tướng và các quan đại thần Bắc triều ra thăm thú, thật
vui mừng khôn xiết. Nay có bữa cơm đạm bạc, chút rượu quê mùa, xin đa tạ sự có
mặt của Tể tướng Bắc triều và các chư vị, xin cạn ly này.
Tể
tướng Bắc triều nóng nảy:
-Thưa
các sứ thần cùng quan khách. Ta phụng mệnh ý chỉ Hoàng đế Bắc triều đưa sứ thần
các nước ra đảo là để tìm kiếm vật chứng, khẳng định chủ quyền đảo giới, đặng
nhận sự bàn giao từ quan quân nước Việt, đảo của Bắc triều thì giao về Bắc
triều, không phải để vui thú, ăn uống, không phải để ra thăm đảo giới nước
Việt.
Lý
Vân ôn tồn:
-Xin
Tể tướng bình thân đã. Ta hiểu lời Tể tướng, muốn nhanh nhanh phụng mệnh ý chỉ
Hoàng đế, nhưng việc đâu có đó, đường xa đã mấy ngày trên biển, thiết nghĩ cùng
cần nghỉ ngơi, ăn uống, việc có sẽ có, việc đến sẽ đến, nếu thực đảo giới này
do Bắc triều chủ quyền thì cũng coi đây là bữa tiệc nước Việt ta khoản đãi để
bàn giao, có chi phải nóng vội. Xin cạn ly này.
Ồn
ào cười nói. Các sứ thần hoan hỉ ăn uống, lại được ngắm gái Việt đứng bên phục
dịch, lại được thả sức rượu chè, thưởng thức đồ ngon vật lạ. Tể tướng gượng
cười, gượng ăn, gượng nói nhưng trong lòng như lửa đốt.
Lý
Nhất lại sai nam nữ thủy binh, dân binh trên đảo múa hát.
Lại
sai mang những con vỏ ốc được khắc chạm hình rồng nhà Lý mang tặng cho các sứ
thần.
Lại
sai mang tặng những vỏ ốc xoắn nhỏ, có khoét lỗ, thổi thì ngân nga vang động,
khiến các sứ thần thi nhau thổi, tiếng vỏ ốc lúc trầm lúc bổng, lúc thánh thót
lúc khoan nhặt, khiến Tể tướng và các quan đại thần Bắc triều mặt đỏ tía tai,
miệng cười mà ruột héo, tiếng cười chắc vì thế mà cứ lục bục như miệng ngậm hột
thị.
Lý
Vân ngả ngả nghiêng nghiêng, đưa chung rượu lên, mắt đỏ, mặt tái, cười cười nói
nói say không ra say, tỉnh không ra tỉnh:
-Ta
xin lời cuối này. Lý Vân ta nước Việt coi là Đại học sĩ, sách đông tây kim cổ
đọc cũng đã nhiều, được ân huệ của Hoàng thượng ta, đi đây đi đó cũng nhiều,
tưởng có thể vỗ ngực khoe tài khoe giỏi, đệ nhất thiên hạ, nào ngờ khi được đi
sứ sang Bắc triều, gặp Hoàng đế Bắc triều, trước một người kiến thức vô biên,
trí tuệ sừng sững, lại thấy hổ thẹn trong lòng, rằng cái biết của ta chỉ bé nhỏ
như hạt cát, than ôi, đời người ngắn ngủi, biết đến bao giờ gọi là biết, học
đến bao giờ cho hết sự học, hổ thẹn, hổ thẹn…
Mọi
người ngơ ngác nhìn Lý Vân không biết có chuyện gì. Lý Vân đột ngột khóc, nước
mắt giàn giụa:
-Giờ
ta đang cùng anh em quân binh, thủy binh nước Việt đứng ở đảo này, rõ ràng là
đang ở trên đất Việt mà e chỉ trong chốc lát, lại hóa là đất của Hoàng đế Bắc
triều, lại phải giao lại, đi ở sao đành, lòng thấy bâng bâng, nhớ nhớ, thương
thương, dù gì thì hòn đảo này cũng đã ở cùng nước Việt trăm năm qua, ngàn năm
qua, nay phải dứt áo về với Hoàng đế Bắc triều, sao không nghẹn ngào cảm động.
Tể
tướng Bắc triều đứng dậy, bước lại, ôm vai Lý Vân:
-Ta
hiểu lòng ngài, kể như ngài, trung hiếu vẹn toàn với nước Việt mà phải thay mặt
nước Việt ký chứng chỉ để giao đảo giới cho Bắc triều ta kể cũng cảm động. Xin
ngài bình tĩnh.
Lý
Vân khóc to hơn:
-Nếu
cho phép ta trách Hoàng đế Bắc triều thì ta trách thế này thôi, sao bao năm qua
không lấy đảo giới này, không đưa đảo giới này về Bắc triều, để nước Việt ta
khỏi tốn sức, tốn công, tốn của ra gìn giữ. Vừa hao người, hao sức, tốn kém
ngân khố, nay bàn giao xong, quan quân lủi thủi về nước, lệ rơi biết mấy cho
vừa?
Tể
tướng Bắc triều an ủi:
-Ta
sẽ tấu trình với Hoàng đế của ta, cho một ít vàng bạc bù đắp cho công cán nước
Việt, không sao, không sao, xin ngài đừng khóc than ở chốn đông người, e không
mấy hay.
Các
sứ thần cũng nhao nhao lên tiếng, số thì an ủi, số thì chia sẻ, số thì bùi ngùi
cảm động theo Lý Vân.
Lý
Vân lại nói:
-Giờ
tiệc cũng đã tàn. Chuyện cũng đã cạn. Hát hò, ăn uống lúc này hỏi còn hứng thú
gì nữa. Vậy xin Tể tướng Bắc triều, xin các quan Đại thần Bắc triều, xin các sứ
thần mau mau làm những việc cần làm để chứng minh chủ quyền cương giới, rồi
đường ai nấy đi, nước ai về nước đó, một lần cho xong một lần.
Tể
tướng Bắc triều phấn khởi:
-Đúng
đúng. Ngài nói chí phải.
Mọi
người dạt ra, ai chức sắc gì đứng theo chức sắc đó. Tể tướng Bắc triều nói:
-Theo
sử sách truyền lại, người Bắc triều ta từng sống ở đảo giới này, ngàn năm nay,
trong đảo giới mặc nhiên còn lưu trữ nhiều vật dụng, nhiều vũ khí của người Bắc
triều. Đó là chứng cứ.
Các
sứ thần gật gật đầu.
Lý
Vân hồ hởi:
-Lời
Tể tướng như lời Thánh chỉ, quá đúng quá đúng, vật dụng, vũ khí người xưa là
chứng chỉ…
Tể
tướng dương dương tự đắc:
-Nếu
ta cho quân binh đào xới trên đảo mà tìm được vật dụng, vũ khí người xưa Bắc
triều ta, thì ngài đồng ý mời các sứ thần cùng ký xác tín chủ quyền đảo giới
cho Bắc triều ta chứ?
Lý
Vân ngoảnh mặt về phía Bắc triều vái một vái, rồi quay lại nhìn Tể tướng và
quan quân, hai tay chắp lại cung kính nói:
-Thánh
chỉ Hoàng đế Bắc triều đã nói, vật chứng chủ quyền là vật dụng của người Bắc
triều rơi rớt trên đảo, vùi lấp trên đảo cả ngàn năm, tìm được nó là tìm được
chủ quyền, ta phận sứ thần, chỉ là nho sỹ, Hoàng thượng Bắc triều nói thế thì
ta nghe theo thế, giờ biết làm thế nào.
Tể
tướng đắc ý ra lệnh cho quân binh dùng kiếm, dùng sắt nhọn tỏa quân đào bới
khắp đảo. Khắc Ngôn và Hứa Văn bước vội theo.
Dẫn
đầu nhóm quân binh đào bới còn có Lý Bật.
Khắc
Ngôn, Hứa Văn chỉ ở đâu, quân binh Bắc triều đào ở đó.
Chẳng
mấy hồi mà đưa tới từng bó cung nỏ, vũ khí, gươm giáo, vật dụng người Bắc
triều. Các sứ thần ùa tới xem, gật gật đầu. Quân binh, thủy binh của Đội Nhất
cũng ngạc nhiên không kém.
Lý
Vân làm như đang hoa mắt chóng mặt, còn không dám nhìn, không dám sờ mó các vật
chứng được đào lên.
Tể
tướng Bắc triều ôm vai Lý Bật, ôm vai Khắc Ngôn, cầm tay Hứa Văn “ Hảo a. Hảo
a”, rồi nói lớn:
-Thôi
thì khỏi cần phải đào thêm nữa, chắc ngần này vật chứng đã đủ cho ngài Lý Vân
đoán định?
Lý
Vân khúm núm:
-Tể
tướng làm ta thẹn quá… Vật chứng như thế rồi, chắc cũng chẳng cần nói thêm gì
nữa.
Các
sứ thần xem xét, gật gù.
Tể
tướng Bắc triều hài lòng, sai châm thuốc trong tẩu mang tới, rít một hơi thuốc,
phả khói mù mịt, khoan khoái.
Lý
Vân giờ mới khoan thai bước đến, đứng trước các vật chứng, cung kính nhìn Tể
tướng và các quan đại thần Bắc triều, chắp tay cúi chào sứ thần các nước rồi
lên tiếng:
-Xin
Tể tướng cho ta hỏi vài câu gọi là lý cùn, thế yếu với ngài được không?
Tể
tướng Bắc triều gật đầu:
-Ngài
cứ hỏi.
Lý
Vân hỏi:
-Vật
chứng này đúng là của người Bắc triều đã dùng nó để sinh sống, để trận mạc, có
cả ngàn năm nay?
Tể
tướng gật đầu:
-Đúng
vậy.
Lý
Vân nói:
-Ngài
nói phải. Tất cả những vật dụng, khí giới đều cũ, nhìn thì biết, cũng phải mấy
trăm tuổi, có nhiều thứ cả ngàn năm tuổi. Không sai. Không sai. Nhưng xin hỏi
Tể tướng và các đại quan Bắc triều câu hỏi nhỏ, sao vật dụng, khí giới của
người Bắc triều vùi lấp trên đảo giới cả trăm năm, cả ngàn năm, đảo giới mệnh
mông, mà các ngài đào đâu cũng trúng, nhìn đâu cũng thấy, thần tài thần tài…
Tể
tướng bối rối:
-Việc
này… Có thể do quan quân ta cảm được hồn thiêng tổ tiên, phù hộ độ trì nên đào
đâu cũng trúng chăng?
Các
sứ thần cười ầm ĩ.
Lý
Vân lại đưa một bó cung tên lên:
-Thưa
Tể tướng, cung tên này, theo hiểu biết hèn mọn của thần thì có tới ngàn năm
tuổi, người Bắc triều chắc đã có trận binh đao cách đây cả ngàn năm ở đảo giới
này, nên đã chôn cung tên ở đây?
Tể
tướng nói:
-Đúng
thế, đúng thế, người Bắc triều ta đã chôn cung tên này cả ngàn năm nay phòng
khi có xâm lăng thì dùng nó mà bảo vệ đảo giới, thế nên đảo giới mới là chủ
quyền Bắc triều ta cả ngàn năm là như vậy
Lý
Vân ngắm nghía bó cung tên, lại đưa tới trước mặt các sứ thần và ôn tồn:
-Cung
tên có cả ngàn năm, nhưng dây buộc cung tên, vải bó cung tên là có từ lúc nào,
xin các sứ thần chỉ bảo.
Tể
tướng tái mặt. Các sứ thần đưa nhau xem dây buộc, vải bó thì cười lăn lộn, quên
cả giữ thể diện sứ thần quốc gia của mình.
Lý
Vân đột ngột rút kiếm, lấy chân đạp ngã Khắc Ngôn xuống cát, đưa mũi kiếm vào
cổ Khắc Ngôn. Hành động ấy nhanh tới mức không ai kịp phản ứng. Tiếng Lý Vân
vang vọng cả một góc đảo:
-Ngươi
đã làm ô uế uy danh của Hoàng đế Bắc triều, tội ngươi chém chưa hết tội, xé xác
phanh thây chưa hết tội. Ngươi nhìn đi, lại dám lấy dây, lấy vải thời nay để bó
cung nỏ thời xưa chôn xuống đảo giới, lừa nước Việt ta là tội nhẹ, lừa cả Hoàng
đế, lừa cả Triều đình nước ngươi mới là trọng tội. Chém.
Lưỡi
kiếm của Lý Vân vung lên, Khắc Ngôn sụp xuống vái lạy:
-Bẩm
ngài tha mạng… Bẩm ngài tha mạng… Đây là con làm theo lệnh của ngài Hứa Văn mà
thôi…
Lý
Vân quắc mắt nhìn Hứa Văn. Hứa Văn che tay lên mặt, lí nhí:
-Việc
này…
Tể
tướng ra vẻ giận dữ bước tới Hứa Văn:
-Ngài
làm thế là mất thể diện của ta, của triều đình.
Lý
Vân cả cười, đỡ Khắc Ngôn đứng dậy:
-Không
có chi. Không có chi. Việc rõ thế rồi. Chỉ vì quan đại thần Hứa Văn nhất thời
nôn nóng, nhất thời dối trá, sai người chôn vật chứng trên đảo giới nước Việt
mà làm Hoàng đế Bắc triều cũng nhầm lẫn, làm Tể tướng cũng mất công… Thôi mọi
chuyện bỏ qua, xin các sứ thần cũng đừng lấy đó mà đàm tiếu, đặng ảnh hưởng đến
mối bang giao giữa Bắc triều với các nước lân bang…
Sứ
thần các nước gật đầu.
Lý
Vân nói:
-Thế
nên, đảo giới này là của người Việt, truyền đời đều thế, bản đồ đều ghi
rõ, đều vẽ ra, nay ta có mang theo xin các sứ thần nếu thuận ý với việc đảo
giới này là của nước Việt, thì nước Việt xin mỗi sứ thần một chữ ký. Xin đa tạ.
Xin đa tạ.
Tể
tướng Bắc triều chưa kịp nói gì thì Sứ thần các nước đã ký xong xác tín.
Lý
Vân lại nói:
-Ta
nghe quan phụ trách Khâm Thiên giám nước Việt bố cáo, mấy ngày nữa trên biển có
bão táp, vậy xin Tể tướng, các đại thần Bắc triều và các sứ thần mau mau lên
thuyền về đất liền, đặng bảo toàn tính mạng.
Các
sứ thần sợ hãi xuống thuyền.
Tể
tướng Bắc triều nấn ná đợi Lý Vân tới gần thì nói:
-Nếu
ta là Hoàng thượng, ta phong ngài là Tể tướng.
Lý
Vân chắp tay cung kính:
-Xin
đa tạ ngài. Xin Tể tướng cùng sứ thần, cùng các quan đại thần vạn dặm bình an,
trời yên biển lặng để đi tới nơi về tới chốn. Xin bái biệt.
Tể
tướng quay gót.
Lý
Bật đi qua Lý Vân, tay họ nắm lấy nhau không nói.
Chốc
lát, thuyền Bắc triều đã ra khơi.
Lý
Vân nói với Lý Nhất:
-Ngài
chuẩn bị đón quân binh Bắc triều xâm chiếm đảo. Ta phải quay vào gặp Hoàng
thượng. Việc gấp, cương giới giữ được hay không trông chờ vào tài trí của ngài
và dũng khí anh em. Xin hãy hết lòng vì nước Việt.
Lý
Nhất cảm kích, đưa chân Lý Vân lên tới thuyền.
Phó
tướng thủy binh cũng lên thuyền về đất liền.
Hôm
nay, bầu trời nơi đảo giới e cao hơn, xanh hơn.
Biển
cũng thế, xanh ngắt và mênh mông.
Lý
Nhất, Lý Thắm đứng bên nhau nhìn mãi con thuyền nước Việt đang đi xa dần.
Lý
Thắm bỗng dưng bật khóc.
39.
Nghe
xong tấu trình của Tể tướng về việc Lý Vân đã làm cho Triều đình Bắc triều bẽ
mặt trước sứ thần các nước về chủ quyền đảo giới, Hoàng đế Bắc triều chồm tới
trước mặt Tể tướng:
-Không
cần chứng cứ, không cần lý do gây hấn, không cần, phải đưa quân đi chiếm lấy,
cướp đấy đảo Nước Lửa, không chỉ cướp hết các đảo, mà cả đất liền nữa, cướp
hết, đạp nước Việt xuống dưới gót chân của người Bắc triều, nhấn nó xuống bùn,
vì sao à? Tất cả các Hoàng đế Bắc triều có vị Hoàng đế nào chịu nhục
trước nước Việt như ta không? Có không?
Tể
tướng nói nhỏ:
-Bẩm
Bệ hạ, đó chỉ là tên sứ thần Lý Vân…
-Lý
Vân sao? Lý Vân là sứ thần nước Việt, cũng là nước Việt… Hãy thảo ngay Thánh
chỉ, đem quân đi ngay…
Tể
tướng vẫn bình tĩnh:
-Bẩm
Bệ hạ, chuyện đưa quân đi xâm lăng là việc trọng đại, xin Bệ hạ bình tĩnh… Nếu
vội vã, nếu… thua thì còn nhục hơn…
Hoàng
thượng Bắc triều đứng lên, đi lại, ngó nghiêng tấm bản đồ lớn treo trên tường,
quay lại Tể tướng:
-Ta
có bao nhiêu lần xâm chiếm nước Việt?
Tể
tướng nói:
-Bẩm
Bệ hạ, nếu thần nhớ không nhầm, kể khoảng mấy trăm năm trở lại, lớn nhỏ đếm
gần trăm cuộc.
-Ta
đã chiến thắng bao nhiêu lần?
Tể
tướng khoanh tay:
-Bẩm
Bệ hạ…
-Nhiều
tới mức không nhớ sao? Khanh cố nhớ xem, Bắc triều ta đã đè bẹp nước Việt ở bao
nhiêu cuộc chiến?
Tể
tướng thở hắt ra:
-Bẩm
Bệ hạ… Tất cả đều thua… thua rất đau… tướng quân bị chết, bị bắt, bị đuổi… thua
hết thưa Bệ hạ.
Hoàng
thượng Bắc triều ngồi bệt xuống long sàng.
Im
lặng.
Nghe
rõ cả tiếng thở dốc của Hoàng thượng.
Hoàng
thượng hỏi, tiếng yếu ớt như đứt hơi:
-Khanh
là Tể tướng… Khanh nói ta nghe… Vì sao ta thua? Ta lớn như thế? Khí giới ta hơn
gấp trăm gấp ngàn nước Việt… Quân binh ta gấp trăm gấp ngàn nước Việt… Vì sao
thua mãi… như vậy?
Tể
tướng ấp úng:
-Mỗi
lần thua, Triều đình đều có tìm ra nguyên cớ, lúc thì do bất lợi về địa hình,
về địa lý, về thời tiết, lúc thì bất lợi về lòng người… Khi thì do chủ quan…
Thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều không lúc nào thuận…
Hoàng
thượng trợn mắt lên:
-Ngu
ngốc… Sao không tìm lý do từ phía nước Việt mà chỉ tìm lý do ở Bắc triều. Nước
Việt. Nước Việt. Nước Việt. Vì sao nước Việt thắng? Nước Việt yếu mà vẫn
thắng. Nước Việt bé mà vẫn thắng. Vì sao nước Việt thắng?
Tể
tướng lúng túng:
-Việc
này… thưa Bệ hạ…
Hoàng
thượng hét lên:
-Gọi
Lý Bật vào cho ta.
Lý
Bật vào, chưa kịp chào xong câu “ Hoàng thượng vạn tuế” thì đã nghe Hoàng
thượng dí câu hỏi ngay trước mặt:
-Nói
ta nghe… Khanh vốn là đại thần nước Việt, khanh phải trả lời ta, vì sao lần nào
Bắc triều mang quân đánh nước Việt, Bắc triều cũng thua? Vì sao nước Việt
thắng?
Lý
Bật ngạc nhiên nhìn Hoàng thượng:
-Thần
có phải trả lời câu hỏi của Bệ hạ không, thưa Bệ hạ?
Hoàng
thượng nhíu mặt:
-Khanh
hỏi vậy là có ý gì?
Lý
Bật nói:
-Bẩm
Bệ hạ… Thần hỏi vậy vì chính thần mới đây phụng mệnh Bệ hạ, dẫn quân đánh chiếm
đảo Nước Lửa, cũng thua đau…
Hoàng
thượng bối rối:
-Khanh
thua cũng là Bắc triều thua, vì sao nước Việt thắng? Mấy trăm năm nay đều
thắng? Ta xua quân cả trăm lần trong mấy trăm năm, lần nào cũng thua. Vì sao
nước Việt thắng?
Tể
tướng buồn rầu nhìn Lý Bật:
-Hãy
nói với Hoàng thượng… Hoàng thượng hỏi ta mà ta không trả lời được… Ngài là đại
thần nước Việt, ngài phải biết…
Hoàng
thượng cướp lời:
-Đúng…
Khanh phải biết…
Lý
Bật ấp úng:
-Không
nói thì Bệ hạ cho thần khi quân, sẽ bị chém đầu, mà nói thì sợ Bệ hạ cũng
sẽ nổi giận chém đầu…
Hoàng
thượng:
-Ta
đã phong cho khanh là đại quan Bắc triều, há dễ ta chém đầu khanh.
Lý
Bật ngước lên nhìn Bệ hạ:
-Bẩm
Bệ hạ… Thân phận thần với nước Việt chỉ là kẻ tạo phản… Lời của thần với Bệ hạ
không biết có giá trị không?
Hoàng
thượng nóng nảy:
-Ta
đang chờ câu trả lời của khanh…
Lý
Bật lùi lại một bước, cung kính:
-Bẩm
Bệ hạ, nếu bây giờ thần giành lấy vương miện trên đầu Bệ hạ rồi hô hoán đó là
vương miện của thần thì Bệ hạ có chịu không? Triều đình chịu không? Trăm họ Bắc
triều có chịu không?
Hoàng
thượng đập bàn:
-Ngu
ngốc. Khanh dám làm việc đó? Khanh dám làm việc trái đạo, trái lý, trái khuôn
vàng thước ngọc như thế sao? Ta giết khanh. Triều đình giết khanh. Trăm họ băm
nát khanh ra.
Lý
Bật gật đầu cung kính:
-Bẩm
Bệ hạ, đó là lý do vì sao nước Việt thắng.
Hoàng
thượng nhìn Tể tướng lại nhìn Lý Bật:
-Khanh
cứ vòng vo như thế làm gì? Nói thẳng ta nghe..
Lý
Bật nói:
-Bẩm
Bệ hạ… Nước Việt thắng vì Bắc triều cướp nước Việt cũng như khanh dám cướp
vương miện của Bệ hạ. Cướp như thế thì lòng dân trăm họ đứng về một phía chống
lại, mà bản thân người đi cướp cũng lo sợ không yên. Cái không yên của người đi
cướp lại vấp phải sự giận dữ của cả một đất nước, trăm họ như một, triệu người
như một, dựng nên thành lũy, hỏi như thế làm sao cướp được…
Hoàng
thượng phẩy tay:
-Khanh
nói tiếp…
-Bẩm
Bệ hạ… Mỗi lần Bắc triều xua quân đánh nước Việt, mọi người dân nước Việt đều
quả quyết, nhất định sẽ thắng Bắc triều…
-Nói
tiếp…
-Nước
Việt bé nên không dùng bé địch lớn, mà dùng khôn ngoan đấu với ngu dại, dùng
cái trí đấu với sự ngạo mạn, dùng cái khéo léo đấu với sự vụng về, dùng cái thế
chủ nhà đấu với cái bất ổn hoảng hốt của kẻ ăn trộm…
Hoàng
thượng thở hắt ra:
-Hết
chưa?
-Bẩm
Bệ hạ… Còn một điều nữa…
-Nói…
-Nước
Việt truyền nhiều đời kinh nghiệm chống ngoại bang xâm lăng, còn Bắc triều của
Bệ hạ lại không thể truyền đời cho con cháu việc phải cướp nước Việt. Kinh
nghiệm giữ nước thì dễ truyền, dễ nhớ, dễ được ủng hộ, còn kinh nghiệm cướp
cương giới các nước lân bang e sử sách Bắc triều không có gì để truyền, lại còn
giấu giếm, vì không thể khoe với con cháu về tội cướp nước, cũng không thể khoe
với con cháu về những thất bại ê chề…
-Hết
chưa?
-Bẩm
Bệ hạ, đáng tiếc là, Bệ hạ vẫn tiếp tục làm cái việc mà trước đó, nhiều triều
Hoàng đế Bắc triều đã làm là cướp đất đai nước Viêt, đòi thôn tính nước Việt…
-Thì
sao?
-Thì
sẽ thua, thưa Bệ hạ.
-Thua?
-Bẩm
Bệ hạ đúng thế.
-Thua?
-Bẩm
Bệ hạ đúng thế.
-Thua?
-Bẩm
Bệ hạ đúng thế.
Hoàng
thượng gào lên lần nữa:
-Thua?
Tể
tướng bật lên một tiếng, nối với tiếng trả lời của Lý Bật:
-Bẩm
Bệ hạ đúng thế… Thua.
Hoàng
thượng quắc mắt nhìn Tể tướng:
-Thua?
Tể
tướng cúi mặt.
Hoàng
thượng chỉ mặt Lý Bật:
-Ta
cám ơn khanh đã nói hết… Ta sẽ ban thưởng… Nhưng để ban thưởng, lần này ta giao
cho khanh đưa quân chiếm đảo nước Việt. Khanh vốn là đại thần nước Việt, hiểu
cách đánh nước Việt, hiểu binh pháp nước Việt thì chắc chắn biết cách tránh
được cách đánh đó, biết cách hóa giải binh pháp đó… Lần này ta tin Bắc triều
thắng, vì ít ra ta đã không đi đường mòn mà các Hoàng đế trước ta đã đi… Ta nói
không sai chứ?
Lý
Bật cúi đầu:
-Thần
tuân chỉ.
Hoàng
thượng cho Lý Bật ra.
Còn
lại Tể tướng, Hoàng thượng hỏi:
-Ta
nói thế không sai chứ?
Tể
tướng nói:
-Bẩm
Bệ hạ… Triều đình thấy bất an nếu Bệ hạ lại giao cả đoàn thuyền chiến vào tay
Lý Bật để ra đánh chiếm đảo giới nước Việt…
Hoàng
thượng nheo mắt nhìn Tể tướng:
-Triều
đình không tin ta?
Tể
tướng cung kính:
-Bẩm
Bệ hạ… Xin Bệ hạ tha tội… Nhưng đó là nỗi lo mà thần thấy Bệ hạ cần cân nhắc.
Hoàng
thượng mỉm cười:
-Ta
không quá ngạo mạn, cũng không quá ngông cuồng, cũng không quá cả tin… Khanh
nghe ta nói đây…Ví dụ thôi… Hơi thô tục một chút… Người Bắc triều ta nhiều như
cát sa mạc… Nếu mỗi người Bắc triều cùng nhổ một bãi nước bọt về phía nước
Việt, thì lượng nước ấy đủ để cuốn trôi người nước Việt ra biển… Ta nói đúng
chứ?
Tể
tướng không nhịn được, òa lên cười.
Hoàng
thượng cũng cười ha hả.
-Khanh
biết không… Nói thế để biết, với ta, cướp đất đai cương giới nước Việt là
chuyện bé, lấy cả nước Việt mới là chuyện đáng làm… và ta lấy được.
Tể
tướng nói:
-Bệ
hạ vẫn nhớ những gì Lý Bật vừa nói?
Hoàng
thượng gật đầu:
-Ta
không quên lời nào…
-Bẩm
Bệ hạ, nhưng lần này nếu ta thua?
Hoàng
thượng Bắc triều nổi khùng:
-Nếu
thua à ? Thì lần khác… lần khác… năm khác… trăm năm nữa… ngàn năm nữa…
khanh hiểu chứ? Ngàn năm nữa cũng đừng quên phải cướp lấy nước Việt…
Tể
tướng rụt rè hỏi:
-Bẩm
Bệ hạ, có câu này thần muốn hỏi Bệ hạ?
-Khanh
cứ nói.
-Bẩm
Bệ hạ, cứ gì Bắc triều ta cứ phải đánh nước Việt?
Hoàng
thượng nhìn Tể tướng:
-Nếu
khanh không phải là ái khanh của ta… Nếu khanh không từng là ân nhân ngày xưa
của ta… Câu hỏi này có thể khanh không mất mạng thì cũng bị phế chức, khanh
hiểu chứ. Khanh đã hỏi thì ta nói cho khanh hay. Lấy nước Việt vì Bắc triều
không muốn có một nước bé mà lợi hại ở bên hông mình, lại án ngự cả một địa thế
hiểm yếu bên hông mình, lại bất trị, lại gan hùng, lại không biết thua cuộc
chiến nào… Lấy được nước Việt thì nhiều nước ở sau nước Việt cũng bị ta thôn
tính. Khanh hiểu chứ?
Tể
tướng nói:
-Nhưng
cứ đánh rồi lại thua như thế, Bệ hạ không thấy phải đắn đo?
Hoàng
thượng nói:
-Nếu
không đánh được bằng binh đao thì sẽ đánh bằng kế khác, phải làm sao để cho
người Bắc triều lưu lạc nhiều ở nước Việt, sinh con đẻ cái ở nước Việt, gieo
mầm Bắc triều ở nước Việt, cách này cần cả trăm năm, cần cả ngàn năm. Nhưng
trước khi thực hiện kế dài lâu ấy, ta cần xuất binh, ta cần cho nước Việt thua
đau một trận, có thua thì mới lùi, có lùi thì mới phục, có phục thì ta
mới ép nước Việt làm chư hầu, mãi mãi là chư hầu, như thế thì kế lâu dài thành
kế ngắn ngày, hiểu chưa?
Tể
tướng cúi đầu:
-Bệ
hạ anh minh.
Hoàng
thượng lại nói:
-Xuất
binh lần này, nói là giao cho Lý Bật nhưng dùng Lý Bật làm mồi, làm con thiêu
thân, quân binh của ta phải nghe theo chủ tướng của ta, khanh hiểu chứ?
Tể
tướng cúi đầu:
-Bẩm
Bệ hạ, thần hiểu.
-Làm
thế, Lý Bật muốn tạo phản cũng bị ta chủ động, muốn lập công thì càng lợi cho
ta, được cả đôi đường…
Tể
tướng nhìn Hoàng thượng. Sống lưng Tể tướng cảm thấy nhồn nhột, lành lạnh.
40.
Đô tướng Lý Nhất giữ lại một lực lượng vừa đủ ở đảo Nước Lửa.
Điều này khiến Lý Đạt rất băn khoăn. Lý Thắm cũng ngạc nhiên với quyết
định đó. Lý Nhất nói:
-Đảo
Nước Lửa đã có lửa là vũ khí, không cần nhiều quân. Với lại, Bắc triều không
ngu dại gì lại tấn công chủ yếu vào đảo Nước Lửa. Lần này chúng sẽ tập trung
vào đảo Ốc, đảo Hút, thậm chí cả đảo Vú Mẹ là những đảo thuận cho chúng. Hãy
tin ta.
Lý
Đạt nói:
-Lý
Bật đã biết rõ thực lực, cách đánh của ta, lần này chúng lại tăng quân, tăng
thuyền chiến, đại ca cần thận trọng.
Lý
Nhất nói:
-Thông
báo với tất cả quân binh, thủy binh, chỉ được phép bắt sống Lý Bật, không được
giết hoặc làm bị thương Lý Bật.
Lý
Thắm, Lý Đạt nhìn nhau.
Huệ
Hương tức tối:
-Biết
thế, lần trước, em giết hắn luôn.
Lý
Nhất im lặng.
Suốt
mấy ngày qua, các lực lượng quân binh, thủy binh đã đào hầm, chuẩn bị khí giới,
dàn binh kỹ càng ở ba hòn đảo quan trọng là đảo Nước Lửa, đảo Ốc và đảo Hút.
Lý
Nhất và Lý Đạt còn tập trung mấy chục thủy binh khỏe nhất, cả ngày tập lặn
ngoài biển. Dù anh em chưa biết tập lặn để làm gì, nhưng Lý Nhất qua mỗi ngày
tập lại loại bớt để chọn chưa tới hai mươi người có khả năng lặn xa nhất. Lý Nhất
tập họp họ lại:
-Ta
phải đánh thủy binh Bắc triều ngay khi thuyền chúng vừa tới, chưa kịp chuẩn bị
gì. Việc của anh em là lặn áp sát thuyền, dùng cây sắt nhọn đâm thủng thuyền
của chúng trước. Muốn vậy phải thử.
Anh
em lại lặn, rồi thử với những con thuyền giả.
Những
ngày tập ấy, Lý Thắm cho anh em ăn nhiều thức ăn ngon.
Số
thủy binh còn lại, Lý Nhất cho Lý Đạt huấn luyện, cả việc đánh giặc bằng cung
tên, gươm giáo cả việc tập nằm ép mình trong cát, chịu đựng nắng nóng, ẩn mình
dưới gốc những bụi rau muống biển, bảo đảm bí mật, nhằm tạo được thế bất ngờ
trong tấn công.
Các
cô gái thì suốt ngày tập bắn cung nỏ dưới sự chỉ huy của Huệ Hương. Dù biết đây
chỉ là lực lượng dự phòng, nhưng các cô gái cũng luyện tập rất chăm chỉ.
Lực
lượng quân binh, thủy binh được Triều đình chi viện thêm ra tới mấy trăm người,
được phân đều về các đảo. Cung nỏ, khí giới đầy đủ. Lương thảo, nước uống cũng
được chuẩn bị rất kỹ càng.
Đêm
đêm, Lý Thắm vẫn lo lắng hỏi Lý Nhất:
-Chàng
không lo lắng chứ?
Lý
Nhất nói:
-Ta
chỉ lo lắng cho nàng…
Lý
Thắm nói:
-Em
hứa, dù bất cứ việc gì xảy ra, em cũng bảo vệ con của chàng, chàng đừng quá bận
tâm…
Lý
Nhất áp tai vào bụng Lý Thắm:
-Ta
và anh em không sợ gì cả. Kẻ đánh từ thuyền vào bao giờ cũng yếu sức hơn với
ta, ở trong đảo đánh ra. Nhưng chỉ e chúng mang quá nhiều thuyền chiến, quân
binh, thủy binh, ép ta thì rất khó khăn.
Lý
Thắm hỏi:
-Chàng
có thể tấu trình với Hoàng thượng để sung thêm thuyền, thêm quân?
Lý
Nhất cầm tay Lý Thắm:
-Có
chuyện cơ mật này, nàng phải giữ, tất cả thuyền chiến, và lực lượng thủy binh
thiện chiến nhất nước Việt, Hoàng thượng đã cho ta rồi. Trong đất liền, chỉ còn
một lực lượng mỏng hơn để phòng vệ thôi.
Lý
Thắm thở dài:
-Ta
yếu, chúng mạnh, Đất ta, cương giới của ta mà chúng lại tham lam đòi giành, đòi
cướp. Sao trời không giúp ta?
Lý
Nhất cứng rắn:
-Nàng
yên tâm. Trời sẽ giúp ta. Trời sẽ giúp nước Việt.
X X
X
Tể
tướng Bắc triều sau khi kiểm tra các chiến thuyền, kiểm tra quân binh, thủy
binh, thì vào gặp Hoàng thượng:
-Bẩm
Bệ hạ. Ta có 2000 thủy binh với khí giới, cung nỏ đầy đủ, thuyền chiến chắc
chắn. Ta lại vừa mới chế tạo được súng phun lửa. Lần xuất binh này, bệ hạ yên
tâm, các đảo cương giới nước Việt sẽ thuộc về ta.
Hoàng
thượng nói:
-Chưa
xuất binh vội.
Tể
tướng:
-Bẩm
Bệ hạ…
Hoàng
thượng:
-Khanh
truyền Thánh chỉ của ta, cho dấy binh ở cương giới đất liền, vừa làm cho nước
Việt ngỡ rằng, ta chưa đánh chiếm đảo, vừa gây hao binh lực của họ, thu hút lực
lượng quân binh nước Việt ở cương giới đất liền, như vậy thì ta dễ dàng lấy đảo
giới mà nước Việt không kịp trở tay.
Tể
tướng:
-Bệ
hạ anh minh.
Hoàng
thượng hạ giọng:
-Thủy
binh chia thành hai đoàn thuyền chiến, đoàn thuyền ít nhất giao Lý Bật chỉ huy.
Đoàn thuyền lớn hơn, giao Hứa Văn chỉ huy. Nếu Đội Nhất và quân binh trên đảo
ngoan ngoãn đầu hàng, tha, bắt làm tù binh, nếu chống cự chém hết, giết hết…
Tể
tướng:
-Trên
đảo giới nước Việt còn có cả nữ binh, dân binh thưa Bệ hạ.
Hoàng
thượng phẩy tay:
-Giết.
Tể
tướng:
-Có
nên thông báo với sứ thần các nước việc này thưa Bệ hạ?
Hoàng
thượng:
-Ta
đã nghĩ tới… Không thông báo thì ta bị coi như tiểu nhân, nhưng thông báo rằng
ta xuất binh chiếm đảo nước Việt thì sứ thần các nước lại coi ta tiểu
nhân hơn. Nhưng kệ, cứ chiếm đã.
Tể
tướng:
-Bẩm
Bệ hạ, thần tuân chỉ.
X X
X
Hoàng
thượng nước Việt thiết triều.
Quan
thượng thư Bộ Binh bẩm báo:
-Bẩm
Bệ hạ. Việc Bắc triều chuẩn bị cho thuyền chiến xâm chiếm đảo giới là đã nhìn
thấy được. Ở cương giới đất liền, quân Bắc triều cũng bắt đầu cho nhiều lực
lượng áp sát. Cương giới cả đất liền và biển đảo rất căng thẳng. Xin Hoàng
thượng hạ chỉ.
Hoàng
thượng nói:
-Ta
biết rồi. Ngoài đảo giới, đại quan Lý Nhất và anh em cũng đã sẵn sàng nghênh
chiến với giặc. Cương giới đất liền ta cũng đã sung quân. Nếu xảy ra binh biến,
ta sẽ gặp thiệt hại rất lớn. Hiện tại, trí dũng ta có, khôn khéo ta có, nhưng
chắc sẽ không địch nổi với quân Bắc triều. Né trận binh đao này nước Việt ta
được lợi nhiều. Kéo hoãn cuộc xâm chiến của Bắc triều cũng là điều đáng làm. Ta
không vì sự khiêu khích chuẩn bị của Bắc triều mà bị kích động.
Im
lặng nhìn các quan quân, Hoàng thượng nói tiếp:
-Ta
lại cần Lý Vân đi sứ Bắc triều lần nữa…
Phó
tướng Thủy binh ngạc nhiên:
-Bẩm
Bệ hạ, cuộc chiến chỉ còn trong gang tấc, đi sứ phỏng có ích gì? Hay Bệ hạ tính
đến chuyện thỏa hiệp, phải giao nộp một phần cương giới cho Bắc triều để tránh
binh đao?
Hoàng
thượng cả giận:
-Khanh
dám khi quân phạm thượng?
Phó
tướng thủy binh cúi đầu:
-Xin
Bệ hạ tha tội…
Hoàng
thượng nhìn Lý Vân:
-Ta
cần khanh đi sứ lần này, khéo nói, kiên nhẫn, khéo thuyết phục để Bắc triều
hoặc là không tiến công, hoặc cùng lắm là trì hoãn cuộc chiến để nước ta có
thêm thời gian sung quân, sung lực, kéo được yên bình cho thiên hạ ngày nào là
tốt ngày đó. Khanh hiểu chứ?
Lý
Vân khoanh tay:
-Bẩm
Bệ hạ, thần tuân chỉ.
Hoàng
thượng nhìn Lý Vân:
-Khanh
còn điều gì cần nói với ta?
Lý
Vân nói:
-Bẩm
Bệ hạ… Thần không xem việc đi sứ lần này có thể chấm dứt được chiến tranh,
cũng khó mà trì hoãn được cuộc xâm chiến đảo giới của Bắc triều. Nhưng việc
Hoàng thượng cử thần đi sứ là rất cần thiết. Thần cần làm cho sứ thần các nước
biết rõ được sự bội ước của Bắc triều, cái lòng tham lam vô độ của họ, bất cần
lý lẽ, bất cần đạo lý của họ. Ở nhà, Bệ hạ cần dốc lòng đôn đốc anh em quân
binh, thủy binh, phải đánh thắng.
Hoàng
thượng gật đầu:
-Khanh
nói phải lắm. Ta ít hy vọng Bắc triều dừng cuộc chiến, nhưng ta cần sự ủng hộ
của các nước lân bang, ta cần cả sự vạch mặt chỉ tên của Lý Vân đối với Bắc
triều để thiên hạ được tỏ tường. Cùng với việc này, nếu ta thắng thì sự bẽ mặt
và xấu hổ của Bắc triều có thể không còn so sánh gì hơn nữa.
Lý
Vân bái biệt Hoàng thượng lên ngựa.
X X
X
-Ta
lại gặp khanh? Hoàng đế Bắc triều nhìn Lý Vân- Ta cứ tưởng, ngày đó khanh chuồn
theo thuyền nước Việt, không trở lại gặp ta là để tránh một sự trừng phạt
vì đã làm bẽ bàng triều đình Bắc triều ta?
Lý
Vân từ tốn:
-Bẩm
Bệ hạ… Là đại thần của triều đình, thì chết cho triều đình nào có hối
tiếc… Nếu thần sợ chết, thần không qua gặp Bệ hạ thế này…
Hoàng
đế Bắc triều nói:
-Khanh
nói hay lắm… Lần này khanh sang là có việc gì? Vấn an ta? Xin ta tha mạng sống?
Xin ta không gây chiến? Xin cống nộp đảo giới?
Lý
Vân nói:
-Bẩm
Bệ hạ… Bệ hạ cũng đã biết, ở đời, cái mình xin thì không có, cái mình có thì
không được cho ai…
Hoàng
thượng hậm hực.
Lý
Vân nói
-Thần
không phải đại thần của Bệ hạ, nên việc Bệ hạ làm gì thần không thể can gián
nhưng cũng không ủng hộ. Thần chỉ tiếc một điều…
-Tiếc?
Hoàng thượng Bắc triều ngạc nhiên
-Bẩm
Bệ hạ… Bắc triều là nước lớn, không nước nào không ngưỡng mộ Bắc triều ta. Bắc
triều lại có người thầy lớn, Khổng phu tử, người thầy không phải chỉ riêng Bắc
triều mà còn với cả thiên hạ. Tiếc là trong khi cả thiên hạ học từng lời dạy
của thầy Khổng phu tử để làm đúng việc đạo, việc đời, thì Bệ hạ lại làm trái
với những gì Khổng phu tử đã dạy…
Hoàng
thượng chồm tới:
-Khanh
dám…
Lý
Vân nhỏ nhẹ:
-Bẩm
Bệ hạ… Khổng phu tử của Bắc triều là vạn thế sư biểu của thiên hạ, điều ấy ai
cũng nể trọng và ghi tâm. Khổng phu tử dạy, người quân tử lấy nghĩa làm đầu,
không vì lợi mà quên nghĩa. Khổng phu tử lại dạy, người quân tử không sợ kẻ
mạnh, không hiếp kẻ yếu. Ngài lại dạy: Trong quan hệ bằng hữu, lấy chữ tín làm đầu.
Hoàng
thượng:
-Đúng
thế, đúng thế, đó lời của Ngài, của Khổng phu tử, thì sao, thì sao?
Lý
Vân nói:
-Bậm
bệ hạ, theo thiển ý của thần, việc Bệ hạ mong muốn chiếm lấy đảo giới của nước
Việt là vì để được lợi, lợi cả tài nguyên của cải, lợi cả cái thế xâm lấn xuống
các nước khác nữa trong khu vực, ấy là thấy lợi thì cố làm, không nghĩ đến tình
nghĩa bang giao hai nước, không còn coi mình là quân tử, khi đã cố làm
thì sẽ bị trăm họ ca thán, thiên hạ dè bỉu. Nếu Đức Ngài Khổng tử sống lại,
biết con cháu Ngài cố tình làm trái lời Ngài dạy, e Bệ hạ không thể ngồi
yên mà không bị phạt.
Hoàng
thượng quay mặt đi.
-Bẩm
Bệ hạ. Bắc triều là nước lớn, văn minh nhất thiên hạ, giàu có nhất thiên hạ,
của nả, thần dân đông nhất thiên hạ, thế mà Bệ hạ lại đưa quân đi xâm chiếm đất
đai của nước Việt nhỏ bé, há không phải là cố ý hiếp kẻ yếu sao? Há như vậy còn
đâu chính nhân quân tử, còn đâu con cháu học trò của Khổng phu tử?
Vẫn
không thấy Hoàng thượng Bắc triều bày tỏ thái độ, Lý Vân nói tiếp:
-Nếu
thần không nhớ nhầm, thì cả trong văn tự, cả trong thánh chỉ gửi cho nước Việt,
cả trong thư báo gửi sứ thần các nước, vừa rồi Bệ hạ đã xác tín cương giới nước
Việt, có chữ ký của sứ thần, thế mà bây giờ Bệ hạ lại đùng đùng xuất quân chiếm
đảo giới nước Việt, hóa ra là không coi chữ tín ra gì, hóa ra không còn vị trí
đàng hoàng của người quân tử. Thấy Bệ hạ thất tín như thế, các vị tiền nhân, cả
thầy Khổng tử liệu ngồi yên chăng?
Hoàng
thượng cựa quậy trên long sàng.
Lý
Vân khoanh tay kính cẩn:
-Xin
Bệ hạ cho thần nói câu cuối. Thần biết được Bệ hạ vì sao phải làm trái
đạo lý, làm trái lương tâm, làm trái lời dạy của Khổng phu tử…
-Khanh
còn biết cả việc ấy?
-Bẩm
Bệ hạ. Biết trái đạo mà vẫn làm, biết thất tín mà vẫn làm chỉ là vì thế này
thôi: Như Bệ hạ cũng biết, nếu một đứa trẻ tỏ ra vô lễ với người chung
quanh, người đời chửi: đồ mất dạy. Chửi là vì cha mẹ đứa bé đã không
biết dạy con những qui ước giao tiếp xã hội, không dạy chúng những điều
hay lẽ phải, nên chúng hành xử trái với đạo đức xã hội. Hoặc chính cha mẹ chúng
cũng không biết điều hay lẽ phải. Nếu nghe câu chửi này, có thể thầy Khổng tử
sẽ vô cùng đau đớn. Thứ nữa, là cũng chính do Bệ hạ thấy cô độc. Cô độc vì
những điều Bệ hạ đang hành xử đều không có nước nào ủng hộ. Làm trái mà không
biết sửa, không biết nghe, dù biết cô độc vẫn cứ làm thì sẽ cuồng. Hoặc Bệ hạ
biết trái vẫn làm vì tưởng thế là anh hùng thiên hạ. Nhưng đó là thứ anh hùng
bánh vẽ, các nước lân bang và cả nước Việt của thần không tâm phục, khẩu phục,
không hề tôn kính cái thứ anh hùng kiêu ngạo ấy. Nhưng thần thì thấy có thể Bệ
hạ làm vậy đôi khi lại do bệnh lý, do di truyền, đời Hoàng đế này đến Hoàng đế
khác của Bắc triều, chưa Hoàng đế nào ngưng xâm chiếm nước Việt. Nếu có bệnh lý
ấy thật, e hết thuốc chữa.
Lý
Vân nói xong, nhẹ nhàng cởi bao kiếm, dâng lên trước mặt Hoàng thượng Bắc
triều:
-Trên
đường sang gặp Bệ hạ, thần nghĩ, thần có thể nói để Bệ hạ ngưng cuộc binh đao,
hai nước hòa hiếu, an bình, được lợi cho con dân trăm họ. Nhưng giờ thì thần
biết, rồi đây máu của quân binh, thủy binh hai nước sẽ nhuộm đỏ biển khơi cương
giới. Hôm nay Bệ hạ có thể thỏa mãn cướp được đảo nước Việt, nhưng mai này, con
cháu nước Việt không quên việc này, sẽ lấy lại, sẽ đưa Bệ hạ ra mắng chửi và
căm ghét. Bệ hạ muốn xuất binh cứ xuất binh. Quân binh thủy binh nước Việt có
câu này xin gửi tới Bệ hạ: dù phải nhuốm đỏ máu ở biển khơi thì đảo giới nước
Việt vẫn mãi là đảo giới nước Việt. Nói được với Bệ hạ thế, thần cũng thấy đã
xong việc, nếu Bệ hạ muốn chém thần xin hãy dùng kiếm này.
Hoàng thượng Bắc triều liếc nhìn cây kiếm trên tay Lý Vân
đang dâng lên thì xua tay:
-Ta
tha chết cho ngươi. Giết tướng thì còn hy vọng quân sợ. Giết nhà nho các ngươi,
giết người này mọc ra người khác, chém đầu người có thể đứt, chém chữ sao đứt.
Lý
Vân thu kiếm:
-Bệ
hạ anh minh.
Hoàng
thượng nói:
-Nhưng
những câu nói khích kháy, châm chọc, thọc sườn của khanh ta không quên được.
Sao nước Việt nhỏ bé mà sinh được ra khanh?
Lý
Vân vừa lùi ra vừa nói:
-Bẩm
Bệ hạ… Bệ hạ quá khen, thần cũng chỉ là một thảo dân ngu muội thôi… Xin bái
biệt Bệ hạ.
-Khoan
đã- Hoàng thượng Bắc triều nói to- Khoan đã. Không phải ta tha tội chết mà
khanh vội bái biệt.
Lý
Vân dừng bước:
-Bẩm
Bệ hạ, còn có chuyện gì dạy bảo?
Hoàng
thượng nhìn Lý Vân:
-Hoàng
thượng nước Việt sai khanh sang xin ta không xuất binh, hủy trận chiến, khanh
không làm được sao không thấy sợ hãi?
Lý
Vân nói:
-Bẩm
Bệ hạ, không ai đi khuyên kẻ đang muốn đánh mình mà chắc rằng họ sẽ thu kiếm.
Thần sang đây trước là để cho Bệ hạ biết quyết tâm của nước Việt, không để mất
đất đai cương giới vào tay ai, cũng không chịu hèn trước ai, nếu phải xảy ra
cuộc chiến, còn một người vẫn đánh. Sau nữa là thần cũng muốn vấn an sứ thần
các nước, để họ biết rõ rằng, Bắc triều của Bệ hạ đang chuẩn bị xâm chiếm đất
đai cương giới của nước Việt để các nước lân bang biết thế mà cảnh giác, không
quá tin vào lời cam kết hứa hẹn hữu hảo của Bệ hạ.
Hoàng
thượng nín lặng.
Lý
Vân cũng im lặng.
Tiếng
Hoàng thượng bé lại:
-Ta
cho khanh lui.
Lý
Vân bước ra. Thấy trước cửa đại điện đã có cỗ xe ngựa chờ sẵn. Người đánh xe là
một người lính. Lý Vân lên xe. Xe ngựa chạy băng băng ra khỏi kinh thành.
Lý
Vân đột ngột thở dài:
-Ta
thấy có âm khí nặng quá.
Tên
lính đánh xe ngựa ghìm dây cương hoảng hốt:
-Ngài
nói vậy là sao?
Lý
Vân cả cười:
-Người
ta vẫn truyền nhau điều này, nếu ai đó mà lén lút giết ai đó thì con cái người
đó sẽ cúi mặt cả đời, gia đình tang tóc, cha mẹ không chết vì bất đắc kỳ tử thì
cũng chết vì sét đánh…
Người
lính đánh xe ngựa tần ngần nhìn Lý Vân:
-Ngài
nói vậy là ngài biết cả… Con chỉ là thằng lính trong nội điện, thân phận thấp
hèn, chỉ biết y lệnh, không có quyền thả ngài mà cũng không có quyền không giết
ngài…
Lý
Vân:
-Than
ôi, ta biết, ta không trách ngươi nhưng chắc trời đất không buông tha…
Người
lính run rẩy:
-Nếu
con tha cho ngài thì con cũng chết… Chi bằng con chịu đau để ngài sống mà con
không bị trời đất nguyền rủa…
Lý
Vân ngạc nhiên:
-Ý
ngươi là sao?
Người
lính lấy kiếm, chém vào cánh tay mình:
-Con
biết ngài là bậc nho sĩ nổi danh nước Việt. Con phụng mệnh Hoàng thượng đưa
ngài về là để giết ngài trên đường. Nhưng giết ngài thì con không đành. Con
phải chém vào tay để coi như ngài đã chém con, ngài chém con rồi ngài cướp xe
về nước Việt.
Lý
Vân cảm động:
-Hãy
theo ta về nước Việt, ta bảo đảm ngươi sống yên ổn, vì công ngươi cứu mạng…
Lý
Vân lấy vải băng bó vết thương cho tên lính.
Chiếc
xe ngựa cứ hướng về cương giới nước Việt phi nước đại.
41.
Thuyền
chiến xếp hàng ra khơi.
Nhóm
thuyền đầu tiên do Lý Bật chỉ huy.
Cách
đó một quãng, nhóm thuyền thứ hai cũng xuất bến, do Hứa Văn chỉ huy.
Trên
thuyền đông đặc thủy binh, quân binh. Trên mũi thuyền là những khẩu súng lửa
vừa được sản xuất.
Cung
nỏ, dao kiếm tua tủa trên tay những thủy binh, quân binh Bắc triều.
Trong
thuyền, còn chất đầy những cột gỗ lim rất dài, vuốt nhọn, khắc chữ Bắc triều để
chiếm được đảo nào thì chôn cột mốc ở đảo đó.
Mấy
ngày qua, quân binh thủy binh được ăn uống thả sức. Đêm thì có bọn ca nữ phục
vụ. Chưa lúc nào xuất quân mà rộn ràng như thế, khí thế như thế, chuẩn bị đầy
đủ như thế.
Trước
ngày cho thuyền xuất binh, Hoàng đế Bắc triều làm hai việc cuối cùng. Một là
viết thư gửi Hoàng đế nước Việt, chia buồn về việc do tai nạn mà Lý Vân đã tử,
cả xe và người đều mất hút dưới vực sâu. Đó là ý trời, mệnh trời, số mạng Lý
Vân, Bắc triều rất lấy làm cảm kích. Hai là Hoàng thượng gặp mặt sứ thần các
nước nói rằng, do thủy binh đảo giới nước Việt ỷ vào việc đóng chốt trên biển
nên đã làm càn, cướp bóc thuyền buôn Bắc triều nên Bắc triều phải xuất quân
trừng trị. Một số quan đại thần có nói, Hoàng thượng dựng chuyện vậy e không ai
tin. Nhưng Hoàng thượng nói, tin hay không là tùy, việc có cái cớ để xuất binh
mới quan trọng. Nghe Hoàng thượng tuyên bố vậy, không quan quân nào nói gì nữa.
X X
X
Tiểu
Tiểu mang kiếm bên hông, bước tới bên Lý Bật:
-Ngài
là người Việt lại được làm phó tướng, ta là người Bắc triều chỉ làm dưới quyền,
Hoàng thượng thật không công bằng.
Lý
Bật nói:
-Ta
là phó tướng mà đôi khi lại bị người dưới quyền ta giám sát, Hoàng thượng làm
vậy mới thực công bằng.
Tiểu
Tiểu cười ha hả:
-Ngài
nói hay lắm, nói hay lắm, biết mà làm như không biết mới gọi là biết.
Lý
Bật nói:
-Đảo
Nước Lửa thì ta và phó đô đốc không lạ, đánh một lần thua rồi, nay đánh lần nữa
e cũng không chắc thắng, liệu mà giữ lấy mạng sống.
Tiểu
Tiểu rút kiếm ra, ngắm nghía:
-Mạng
sống ta nằm ở lưỡi kiếm này…
Lý
Bật cả cười:
-Còn
mạng sống ta nằm trong tay Hoàng thượng.
Tiểu
Tiểu nheo nheo mắt nhìn Lý Bật rồi bước đi.
X X
X
Chòi
canh trên đảo lúc nào cũng có lính đứng quan sát.
Và
bây giờ thì âm thanh báo động từ cái vỏ ốc được thổi đã vang lên. Âm thanh mà
Lý Nhất không mong muốn nghe đã vang lên.
Từ
xa tít ở chân trời, lính gác chòi canh đếm được gần 30 con thuyền chiến của Bắc
triều.
Lý
Nhất bàng hoàng.
Ba
mươi con thuyền chiến của Bắc triều là mang theo mấy ngàn binh lính?
Lý
Nhất đưa vỏ ốc lên thổi.
Các
đảo đều báo động nối nhau.
Các
quân binh, thủy binh chạy ào ra ra các vị trí đã được bố trí từ trước.
Đội
lặn đang ngồi với Lý Nhất để đợi thuyền chiến của Bắc triều tới gần hơn.
Mặt
trời đã chênh chếch hạ xuống.
Trên
biển, trên đảo, ánh sáng màu huyết dụ đã phủ tràn.
Lý
Nhất cầm quân ở đảo Nước Lửa. Lý Đạt cầm quân ở đảo Ốc. Huệ Hương cầm quân ở
đảo Hút. Lý Thắm cầm quân ở đảo Vú Mẹ…
Tất
cả các đảo đều đã sẵn sàng.
Lý
Thắm cố bước lên đỉnh cát nhìn ra biển khơi. Xa lắm, rất xa, bóng những chiến
thuyền của Bắc triều đang lúc khuất lúc hiện trên từng lớp sóng.
Đột
nhiên, Lý Thắm cúi gập người xuống. Một cơn đau nhẹ.
Lý
Thắm thì thầm: Con ạ, từ từ con nhé… Mẹ và cha con đang phải tham chiến trận
này…
Từ
mấy ngày trước, Đô tướng Lý Nhất đã cho treo cờ nước Việt lên tất cả các đảo.
Đảo nào cũng có một cột cờ làm bằng cột tre mang từ đất liền ra. Trong ánh nắng
chiều ta, màu hồng đỏ của nắng trời, cùng màu cờ đỏ như máu trên đảo, nhìn đã
thấy trong lòng hào hứng và dâng ngập cảm xúc.
Lý
Nhất đã bàn bạc với Lý Đạt, bằng mọi giá cũng phải bảo vệ được đảo, thế cùng
thì rút hết về giữ lấy đảo Vú Mẹ rồi phản công chiếm lại đảo. Hôm qua Lý Nhất
cũng đã cho người lên thuyền về nước Việt, có bao nhiêu của cải quý giá thu
lượm được trên các đảo đều mang về hết. Lý Nhất cũng đã viết thư cho Hoàng
thượng, lá thư mà nếu rồi đây vì trận chiến này phải chết, thì những dòng thư
cuối cùng ấy cũng muốn cho Hoàng thượng và nước Việt hiểu rằng, cái chết của Lý
Nhất và anh em là để đảo cương giới còn mãi với nước Việt, không ai có thể
chiếm đoạt được.
X X
X
Đã
bắt đầu nhìn thấy ánh vàng trên các đảo cát của nước Việt. Tiểu Tiểu hô hét cho
quân binh, thủy binh chuẩn bị sẵn sàng. Lý Bật liếc mắt nhìn mấy khẩu súng
phóng lửa rồi bí mật dùng nước đổ vào mấy cái máng thuốc nổ. Đang làm thì một
tên lính nhìn thấy định la lên, nhanh như chớp, Lý Bật xộc mũi kiếm vào cổ hắn
và kéo dìm xuống sau bánh lái thuyền.
Hứa
Văn cho thả những thuyền nan con xuống kẹp bên hông thuyền để tiện cho việc
quân lính tấn công vào đảo.
Hứa
Văn nhìn về nhóm thuyền chiến của Lý Bật, quay sang nói với Khắc Ngôn:
-Thuyền
ấy chỉ dùng để đánh lừa cả Lý Bật và quân binh Lý Nhất. Thuyền chiếm đảo chính
vẫn là đoàn thuyền của ta, ngươi hiểu chứ.
Khắc
Ngôn gật đầu:
-Bẩm
ngài con hiểu.
-Tao
không tin Lý Bật. Mày tin hắn không?
-Bẩm
ngài, không.
Hứa
Văn gật đầu hài lòng:
-Hảo.
Không tin ai ngoài bản thân mình. Huống chi hắn là người Việt. Không tin được.
Khắc
Ngôn nói:
-Nếu
cần, ngài cho con giết hắn để trừ hậu họa lâu dài.
Hứa
Văn lắc đầu:
-Hoàng
thượng giao cho hắn mấy thuyền chiến ấy là giao cho hắn cái chết rồi, khỏi phải
ra tay. Hoàng thượng sáng suốt.
Khắc
Ngôn không hiểu. Hứa Văn cười lớn.
42.
Các
thuyền chiến Bắc triều bắt đầu hướng tới đảo. Lý Nhất nói đúng, cả ba đảo đều
nhận thấy mũi thuyền chiến của quân Bắc triều hướng tới: đảo Nước Lửa, đảo Hút
và đảo Ốc.
Trên
các đám rau muống biển dọc chân đảo, phía dưới đều có các thủy binh ẩn náu.
Đội
lặn nằm ép sau một ghềnh đá san hô để đợi thuyền của giặc áp sát.
Lý
Nhất nhìn thấy đoàn thuyền ít hơn hướng thẳng tới đảo Nước Lửa, còn một đoàn
thuyền rất lớn, nhung nhúc quân binh thì hướng tới đảo Ốc, đảo Hút.
Lý
Nhất cảm thấy lo lắng.
Ở
đảo Vú Mẹ, trên đỉnh cát, Lý Thắm đứng nhìn, hai tay ôm lấy bụng bầu, mắt nàng
không chớp.
Chỉ
cần nhìn đoàn thuyền chiến của Bắc triều đang rùng rùng tiến vào áp đảo, đầy
hung hãn, nàng tự thấy một tai họa lớn đang tới.
Mấy
cô gái chạy tới, đứng bên cạnh.
Lý
Thắm nói:
-Các
em chuẩn bị thuyền để ứng cứu. Quân giặc quá đông.
Các
cô gái vội lao về mép đảo, kéo những con thuyền nhỏ trong hốc đá ra, sẵn sàng
đợi lệnh.
Đã
nhìn thấy cờ quạt của quân Bắc triều.
Đã
nghe thấy tiếng thanh la, tiếng kèn hú lên từng hồi trên thuyền chiến của giặc.
Hình
như gió trên đảo cũng ngừng thổi.
Cả
những con còng gió cũng nằm im trong hang cát.
Trên
tất cả các đảo, hàng trăm các chiến binh nước Việt đang đợi giặc.
Đảo
dưới chân họ.
Cờ
chủ quyền cương giới trên đầu họ.
Cột
mốc cương giới ở bên cạnh họ
X X
X
Lý
Bật im lặng lệnh cho lính neo giữ chặt gần bảy con thuyền trong đoàn thuyền do
mình chỉ huy, dùng khóa sắt móc néo thuyền này qua thuyền khác trước khi thả
neo cập kề đảo Nước Lửa. Tiểu Tiểu mải chỉ huy quân ở mũi thuyền chuẩn bị xuống
các thuyền con nên không quan sát việc buộc néo thuyền của Lý Bật.
Lúc
đầu, các thủy binh Bắc triều còn theo lệnh Tiểu Tiểu xuống thuyền con vào, sau
thấy lâu quá, Tiểu Tiểu lệnh cho thủy binh lao xuống biển bơi vào đảo. Các
thuyền con dùng để chở những khẩu súng phun lửa.
Một
quãng biển ngắn từ thuyền vào đảo phút chốc đã nhung nhúc thủy binh Bắc triều.
Tiểu Tiểu ngồi trên con thuyền nan, vừa vung kiếm lên trời vừa hét dồn cả ngàn
tên lính nhanh nhanh lên đảo: Tả lơ. Tả lơ. Tả lơ.
Hàng
nghìn tên lính cùng đồng thanh hô to: Tả lơ. Tả lơ. Tả lơ.
Nhung
nhúc quân.
Nhung
nhúc gươm giáo.
Nhung
nhúc những cái đầu lính.
Rền
vang những tiếng Tả lơ.
Nhưng
Tiểu Tiểu thoáng giật thót, khi thấy đảo im lìm đến mức tưởng như đảo hoang,
không có người nào.
Hàng
ngàn tên lính sau những tiếng hô tả lơ khản cả tiếng cũng đột ngột ùn lại với
nhau vì thấy đảo vắng teo, không bóng người, không kháng cự.
Tiểu
Tiểu nhìn lại, thấy Lý Bật vẫn đứng trên thuyền, dáng vẻ oai phong lẫm liệt,
miệng vẫn hò hét hai tiếng Tả lơ thì lấy làm yên tâm, lại xua lính nhanh nhanh
ào lên chiếm đảo.
43.
Bắt
đầu nghe tiếng la ó. Mấy trăm tên lính đầu tiên chạm vào đảo bị sập hầm, dưới
đó là những mũi tên vót nhọn có tẩm độc. Dưới hầm còn dựng lên tua tủa những
mũi giáo nhọn. Có những tên lính sụp hố, mũi giáo đâm dọc từ dưới thân lên tận
cổ, máu đỏ vọt thẳng lên trời, phun vào cả mặt thằng bên cạnh. Bọn lính hoàng
sợ lùi lại, để mặc cho hàng trăm nhân mạng đang giãy dụa chết dần dưới hố sâu,
chúng men theo chân đảo, lần mò tới các đám rau muống biển để tránh bị sập hố.
Bất ngờ, dưới những đám rau muống biển im lìm ấy, hàng mấy chục thủy binh nước
Việt nhoài lên, thúc ngược lên, rồi thì giáo mác vung thẳng, chém xa xả vào đám
quân Bắc triều. Người rời đầu, kẻ lìa tay, kẻ nát bụng, máu đỏ trào ra, thân
người ngả xuống, những bãi cát vàng phút chốc đỏ lòm. Hai bên ào ào xô vào
nhau. Quân thủy binh Lý Nhất sau phút bất ngờ phản công thì lẹ làng rút chậm để
nhử cho thủy binh Bắc triều ào ào đuổi theo. Lại sập hố bẫy. Lại la ó. Lại
phóng vút lên những dòng máu đỏ. Thủy binh Lý Nhất cũng đã có thương vong, có
nhiều người trúng tên độc đã ngã xuống. Ngay khi đó, khi mà quân Bắc triều đang
ùn ùn vón cục lại đông như kiến cỏ thì lửa ở đâu từ bốn phía bốc lên ngùn ngụt,
vây kín chúng lại. Chỉ riêng việc quân lính đạp lên đầu nhau quẫy cựa trong lửa
cũng đã tự chúng giết chúng tính cả mấy trăm người. Sau những mô cát, hàng chục
tay cung của thủy quân nước Việt bắt đầu tấn công. Quanh là lửa cháy, dưới là
hố bẫy, trên đầu bị giáo mác chém xa xả, trước mặt thì cung tên bắn tới, quân
thủy binh Bắc triều chết như ngả rạ, thân xác những tên lính chồng lên nhau. Tưởng
thế là thủy binh nước Việt đang thắng thế, nhưng không thể ngờ, bắn mấy, chém
mấy cũng không ăn thua với sóng người ùn ùn tiến vào, đông không đếm xuể.
Súng
phóng lửa của thủy binh Bắc triều đã không bắn được, thuốc súng đã ẩm nước.
Nhóm
thủy binh ở đội lặn do Lý Nhất chỉ huy lặng lẽ gieo người vào biển. Trong chốc
lát, các thủy binh đã bám chắc mạn thuyền của quân Bắc triều. Các thủy binh
nước Việt dùng kiếm nhọn, giáo mác đâm thủng thuyền, nước biển chảy vào thuyền
ồ ồ như vỡ đê. Số nữa thì bắt đầu trèo lên thuyền, châm lửa đốt. Từng con
thuyền chiến không mấy chốc như những bó lửa lớn.
LýNhất
cố tìm Lý Bật.
Lý
Bật thì đang hò hét Tả lơ tả lơ nhưng vừa hét vừa đưa kiếm chém rất nhiều những
tên lính còn chưa kịp nhảy xuống vào đảo.
Tiểu
Tiểu đã nhận ra điều gì khác lạ ở Lý Bật, một mặt tiếp tục hò hét binh lính
chiếm đảo, một mặt im lặng theo thuyền nan áp sát thuyền chiến, rồi bí mật quan
sát hành tung của Lý Bật. Lý Bật vung kiếm chém xa xả lính của mình đồng thời
đã nhìn thấy thuyền cháy, thuyền chìm, nhìn thấy cả bóng Lý Nhất thấp thoáng ở
bên kia thì lấy làm vui sướng. Nhưng ngay lúc đó, Tiểu Tiểu đã đứng trước mặt
Lý Bật:
-Ngươi
là tạo phản.
Lý
Bật:
-Không.
Người nhầm rồi. Ta không tạo phản, ta là người nước Việt.
-Ta
đã nghi ngờ lâu rồi, giờ thì ngươi rõ là tạo phản.
Lý
Bật cả cười:
-Ta
bảo vệ nước Việt mà tạo phản a?
Nói
rồi thì vung kiếm. Tiểu Tiểu né đường kiếm của Lý Bật đồng thời nhún chân đưa
một đường kiếm đến loáng mắt, cánh tay của Lý Bật bị cắt rời, văng xuống biển,
chìm xuống biển, để lại một vũng nước đỏ máu. Lưỡi kiếm thứ hai của Tiểu Tiểu
lại vung lên nhưng bất ngờ bị lưỡi kiếm khác chém xả, văng khỏi tay và một nhát
kiếm nữa đâm thẳng vào ngực Tiểu Tiểu. Tiểu Tiểu lộn đầu xuống biển.
Lý
Nhất ôm lấy Lý Bật:
-Ngài
cố gắng nhé… Ta sẽ băng bó…
Lý
Bật:
-Ta
tự lo được… Ngài hãy chỉ huy anh em giữ đảo…
Lý
Nhất nói:
-Thuyền
sắp chìm, ngài phải theo ta rời thuyền
Lý
Bật nói:
-Không
được. Không nên vì ta. Nếu ta chết, xin hãy ghi vào Thánh chỉ của Bệ hạ còn để
trống cho tội tạo phản của ta rằng, ta đã chết vì Bệ hạ, vì nước Việt.
Nói
rồi, Lý Bật lao xuống biển, trườn người về đám quân lính Bắc triều đang lúc
nhúc tiến vào đảo, chém xa xả, chém xa xả cho tới khi gục xuống, trên thân thể
của chàng đầm đìa máu.
Cả
trăm tên lính Bắc triều đang vây chặt Lý Nhất. Thuyền đang chìm. Lửa cũng đang
cháy. Những tên lính hằm hằm nhìn Lý Nhất rồi lao vào hét: Tả lơ. Tả lơ.
Lý
Nhất vung kiếm.
Thủy
binh Bắc triều dồn Lý Nhất về mũi thuyền.
Lưng
tựa vào thành thuyền, hai tay hai kiếm, Lý Nhất chém vào mặt từng tên một, số
bị vào mặt, số bị vào ngực, số bị vào tứ chi, xác bọn lính rơi xuống biển như
rạ.
Lý
Nhất nhún người, lao xuống biển, mang
theo trên mình nhiều vết thương, chàng lặn sâu xuống, thoát khỏi vòng vây.
Tụi
lính Bắc triều sau khi đã vượt qua bẫy hầm, bẫy lửa thì ùn ùn vây chặt anh em
thủy binh ở trung tâm đảo. Sau lưng chúng, các chiến thuyền đã bốc cháy, đã
chìm, đã ngả đổ xuống biển, trước mặt chúng là thủy binh nước Việt. Không còn
đường lùi, không còn lựa chọn, cả ngàn tên lính lao tới.
Các
thủy binh nước Việt lưng tựa vào nhau, tựa vào cột mốc giới ở trung tâm đảo,
chém xa xả vào quân Bắc triều. Cuộc chiến không còn cân sức. Thủy binh Bắc
triều cứ ùn ùn đến từng lớp, từng lớp, người chồng lên người. Dưới cột mốc chủ
quyền, xác các thủy binh nước Việt chết chất đống lại, quấn lấy nhau, người này
quấn lấy tay người kia, quấn chặt lấy chân cột mốc giới, như đá, như đất, như
sắt, như thép, khiến cho thủy binh Bắc triều cũng phải hoảng hốt dừng lại.
Hứa
Văn nhìn thấy đoàn thuyền chiến của Lý Bật tấn công đảo Nước Lửa đang ngụt cháy
thì hoảng sợ, vội vã xua quân ào ào vào đảo Ốc, đảo Hút. Không thể đếm được là
bao nhiêu quân. Trong từng con thuyền chiến, thủy binh Bắc triều cứ ùn ùn xuất
hiện, phút chốc, cái màu vàng của đảo Ốc, đảo Hút mất biến, chỉ còn lại màu áo
của thủy binh Bắc triều đang di chuyển, đang la hét, đang vung kiếm vung gươm.
Lý
Đạt thét gọi anh em không sợ, cứ lao tới, cứ chém, phút chốc thủy binh nước
Việt và thủy binh Bắc triều như trộn lấy nhau, gươm kiếm loang loáng, máu đỏ
chảy ào ào, xác người chồng chất. Lý Đạt liếc mắt nhìn thấy Hứa Văn đang nép
mình sau ghềnh đá, thét giục quân lính chiếm đảo thì chàng lăn mấy vòng, luồn
người qua những xác chết đang chồng chất lên nhau, rồi bất ngờ nhảy dựng lên,
dùng hết sức mình, chém một nhát kiếm vào đầu Hứa Văn, đầu Hứa Văn chẻ đôi,
máu, óc phóng vọt lên cao. Nhưng cũng ngay lúc đó, một tên thủy binh Bắc triều
kịp đâm một nhát kiếm vào ngực Lý Đạt. Lý Đạt cố ôm lấy vết thương, chạy về cột
mốc giới. Lý Đạt nhìn quanh, anh em đã giết chết không biết cơ man nào là lính
Bắc triều nhưng lính Bắc triều quá đông, cũng đã giết hết anh em. Còn Lý Đạt là
đang thoi thóp sống. Chàng lết đến bên cột mốc, hay tay cầm lấy cột mốc gắng
sức đứng dậy. Thủy binh Bắc triều xô tới, chém xa xả vào Lý Đạt, thân hình
chàng bị băm nát nhưng hai cánh tay chàng thì giữ chặt lấy cột mốc, và
chàng vẫn nhìn thấy rõ ràng lá cờ Nước Việt bay phần phật trong gió, bay
phần phật, ngạo nghễ, mạnh mẽ trong mắt chàng.
Huệ
Hương quên mình là đàn bà, kiếm sắc trong tay, nàng cùng anh em lao về phía
thủy binh Bắc triều, vừa chém, vừa hét, bóng nàng như một mặt trời đỏ, chói
sáng tinh thần, khiến cho cả đám lính Bắc triều phải khiếp đảm. Dân binh, thủy
binh, nữ binh, tất cả đều dồn lên cùng Huệ Hương. Và tất cả đều ngã xuống. Huệ
Hương cũng ngã xuống, kiếm vẫn tư thế vung lên trời.
Lý
Thắm đã ra lệnh điều hết mọi người sang chi viện cho các đảo.
Và
bây giờ chỉ còn một mình nàng.
Từ
trên đỉnh Vú Mẹ, nàng nhìn thấy khói lửa, nàng nghe vẳng đến tiếng la hét, nàng
cảm thấy như tim mình đang bị xé nát trong nỗi đau đớn.
Hai
tay đỡ lấy cái bụng chửa, nàng đứng nhìn mà nước mắt đầm đìa.
Nhưng
khi ấy thì trời đất đột ngột chuyển mình, mây đen ùn ùn kéo tới, rồi một cơn
lốc từ khơi xa ào ào xô vào đảo.
Lý
Thắm chồm người vào một hốc cát, nằm im, chịu cho từng cơn gió mang cát xát
mạnh qua người.
Bão
tố kinh khủng.
Tất
cả lều bạt trên đảo bị cuốn đi.
Những
chiến thuyền của Bắc triều phút chốc bị gió bão vặn xoắn lại, hất tung ra biển.
Gió
bão chà lên từng đảo, hất tất cả người sống, người chết ra biển.
Những
con sóng lừng lững từ ngoài khơi tiến vào, như cái chổi lớn, quét hết mọi thứ
trên các đảo ra biển khơi.
Chiến
trận kết thúc trong sự cuồng phong của lốc tố.
Chiến
thuyền mất hút trên biển. Xác thủy binh Bắc triều, xác thủy binh nước Việt cũng
mất hút trên biển, các đảo chỉ còn cát, trơ trơ cát, vắng hoang vắng ngắt. Chỉ
có ở đảo Nước Lửa, ở chân cột mốc, còn một số xác thủy binh nước Việt quấn chặt
vào cột mốc, gió bão không thổi bay được, không cuốn đi được. Còn lại ở chân
cột mốc đảo Ốc, xác Lý Đạt vẫn đấy, quấn chặt vào chân cột, cưỡng lại sự chà
xát khủng khiếp của cơn lốc lớn.
Ngay
lúc ấy thì Lý Thắm đau quặn từng cơn.
Nàng
cảm tưởng như nỗi đau đang kéo nàng bổ sấp xuống cát.
Bão
tố đã bớt sự mạnh mẽ nhưng vẫn chà xát mạnh trên mặt đảo.
Nàng
biết, cái giây phút sinh nở đã tới.
Nàng
lết người đi trong cát, cái đỉnh bụng cà thành từng cái hào nhỏ trên cát mịn.
Nàng vớ phải một nắm vỏ ốc li ti. Nàng nắm lấy cái vỏ ốc, cào mạnh lên bụng
mình, cào cho thật đau để giảm cái nỗi đau sinh nở đang ùa tới.
Nàng
lết thân mình trong gió bão, trong mưa lớn, kéo nỗi đau sinh nở đi từng đoạn
ngắn, hy vọng về tới được chỗ ở của mình.
Nàng
còn không biết anh em trên đảo hiện giờ ra sao, không biết tính mạng Lý Nhất
hiện giờ ra sao, nhưng đứa con này thì nàng phải bảo vệ, nàng phải sinh thành
an toàn, đó là của Lý Nhất, của đảo, của anh em, của nước Việt.
Nàng
gục đầu xuống, miệng cắn đầy cát, nhai cát rau ráu, rau ráu, cố hét lên thật to
cho bớt đau. Tay nàng vịn vào được cái vỏ ốc lớn nhất trên đảo mà nàng đã dùng
nó để hứng nước. Cái vỏ ốc thật lớn, đựng đầy nước. Nàng kéo người áp tới bên
cái vỏ ốc, rồi dùng hết sức đổ nước trong vỏ ốc ra. Nàng cởi áo, lau sạch ruột
vỏ ốc, lót cái áo của mình đang mang vào vỏ ốc.
Một
cơn đau giật khiến nàng như có thể cắn phải lưỡi.
Nàng
đưa hai tay xuống dưới, đỡ lấy sinh linh bé nhỏ đang nhào ra.
Nàng
bế lấy con. Một thằng con trai đỏ hỏn, ướt nhẽm trong tay nàng và đang khóc rất
to.
Nàng
đưa miệng cắn cho đứt cái đoạn nhau dính trên bụng thằng bé.
Nàng
đưa lưỡi liếm sạch những vết nhơ bẩn, nhớp nhúa trên thân thể con rồi đặt nó
vào trong lòng vỏ ốc lớn.
Nàng
vừa lết, vừa kéo vỏ ốc về phía chỗ ở.
Nhưng
chỗ ở cũng đã bị gió bão cuốn mất.
Nàng
quay lại, còn lại một nơi nàng có thể nương tựa vào đấy, đó là hốc đá nằm dưới
chân cột mốc giới.
Nàng
kéo con trong vỏ ốc tới chân cột mốc giới.
Gió
đã bớt thổi.
Mưa
cũng đã bớt.
Bão
tố cũng đã tan dần
Có
ánh hồng bật sáng lên phía chân trời.
Lý
Thắm đứng lên, bế trong tay cái vỏ ốc với đứa con trai nhỏ, mắt nàng tan tác
nhìn khắp đảo.
Từ
rất xa, nàng nhìn thấy một cái gì đó đang động cựa.
Nàng
nhìn kỹ hơn.
Bóng
hình đó đã đứng lên được.
Nàng
như khịu chân xuống vì sung sướng và hạnh phúc.
Nàng
muốn reo lên mà cổ họng nghẹn ứ lại. Trước mặt nàng là Lý Nhất.
Viết tại quê nhà Quảng Bình,
tháng 1/2012
Chỉnh sửa lần cuối tại Hà Nội, 30/4/2013
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
